Luận án tiến sĩ nghiên cứu nâng cao năng suất chất lượng một số dòng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử

Tài liệu Nâng cao năng suất lúa kháng bệnh bạc lá qua đột biến và chỉ thị phân tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

168
21
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Đột biến trong nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng

1.1.1. Phân loại các tác nhân gây đột biến

1.2. Bức xạ ion beam trong chọn tạo giống cây trồng

2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về đột biến và bệnh bạc lá trên lúa

Luận án tập trung vào việc nâng cao năng suất và chất lượng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến kết hợp chỉ thị phân tử. Bệnh bạc lá là một trong những bệnh gây hại nghiêm trọng trên lúa ở miền Bắc Việt Nam, ảnh hưởng đáng kể đến năng suất. Tuy nhiên, các giống lúa kháng bệnh thường có năng suất và chất lượng chưa cao. Đột biến là một phương pháp hiệu quả để cải tiến giống cây trồng, cho phép thay đổi đặc điểm mong muốn mà không làm mất các tính trạng tốt vốn có. "Nếu sử dụng phương pháp đột biến để cải tiến tính trạng năng suất, chất lượng của các dòng lúa mang gen kháng bạc lá, đồng thời dùng chỉ thị phân tử để hỗ trợ chọn lọc gen kháng sẽ tăng khả năng thành công." Luận án sử dụng kết hợp đột biến và chỉ thị phân tử nhằm tạo ra giống lúa vừa kháng bệnh, vừa đạt năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất và thị hiếu tiêu dùng.

1.1. Các tác nhân gây đột biến: Các tác nhân gây đột biến được chia thành ba loại: hóa học, vật lý và sinh học. Trong đó, tác nhân vật lý, đặc biệt là bức xạ ion hóa (tia gamma, tia X) và không ion hóa (tia tử ngoại), được ưu tiên sử dụng do tính hiệu quả và an toàn.

1.2. Bức xạ ion beam: Bức xạ ion beam của các nguyên tố Li, C, H, Ar, He, Ne... được đánh giá là công cụ mạnh mẽ trong chọn tạo giống, tạo ra phổ đột biến rộng hơn so với tia gamma. "Ion beam là dạng bức xạ có hệ số truyền năng lƣợng cao, có khả năng tạo ra sự xáo trộn lớn trong hệ gen, tạo nên những thiệt hại lớn trên ADN mà cơ thể không thể tự sửa chữa." Tuy nhiên, các đột biến lớn này có thể không có ý nghĩa đối với chọn giống nhưng lại có tiềm năng tạo ra giống, loài mới.

II. Chỉ thị phân tử và ứng dụng trong chọn giống lúa

Chỉ thị phân tử đóng vai trò quan trọng trong chọn giống, đặc biệt là trong việc xác định và chọn lọc các gen mong muốn. "Chỉ thị phân tử trong chọn giống đột biến" giúp tăng hiệu quả và rút ngắn thời gian chọn tạo giống.

2.1. Phân loại chỉ thị phân tử: Có nhiều loại chỉ thị phân tử khác nhau, mỗi loại có ưu nhược điểm riêng. Việc lựa chọn chỉ thị phân tử phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của đối tượng.

2.2. Ứng dụng trong chọn giống lúa kháng bạc lá: Chỉ thị phân tử được sử dụng để xác định các gen kháng bệnh bạc lá, giúp chọn lọc các dòng lúa mang gen kháng một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc kết hợp với phương pháp đột biến, cho phép đánh giá hiệu quả của đột biến lên gen kháng bệnh.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Luận án đã tiến hành đánh giá và chọn lọc các dòng lúa vật liệu, chiếu xạ bằng tia gamma và ion beam để tạo đột biến. "Đề tài đã chọn tạo được 5 dòng lúa đột biến triển vọng kháng bạc lá, năng suất cao (6- 7 tấn/ha), một số chỉ tiêu chất lượng được cải thiện." Kết quả cho thấy liều lượng chiếu xạ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sót, biến dị và tần số đột biến.

3.1. Chọn lọc dòng đột biến: Qua nhiều thế hệ chọn lọc, luận án đã xác định được 52 dòng đột biến có ý nghĩa cho chọn giống và 5 dòng triển vọng kháng bạc lá, năng suất cao và chất lượng được cải thiện.

3.2. Phân tích sai khác di truyền: Sử dụng chỉ thị SSR và giải trình tự gen, luận án đã phân tích được sai khác di truyền giữa các dòng đột biến ở mức độ phân tử, cung cấp thông tin valuable cho việc nghiên cứu cơ chế kháng bệnh và chọn giống.

IV. Kết luận và ý nghĩa

Luận án đã thành công trong việc chọn tạo các dòng lúa đột biến kháng bạc lá, năng suất cao và chất lượng tốt. "Từ các kết quả thu được, nổi bật nhất là các dòng lúa triển vọng kháng bạc lá, có năng suất và chất lượng được cải thiện đã khẳng định tính hiệu quả của việc kết hợp phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử trong cải tiến giống cây trồng."

4.1. Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu đã khẳng định tính hiệu quả của việc kết hợp phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử trong cải tiến giống cây trồng, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà chọn giống.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã tạo ra được nguồn vật liệu quý giá cho sản xuất, bao gồm 5 dòng lúa đột biến triển vọng và 52 dòng đột biến có ý nghĩa cho chọn giống, góp phần đảm bảo an ninh lương thực.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo dự báo, dân số thế giới sẽ tăng từ 7,6 tỷ (3/2018) lên khoảng 9 tỷ vào năm 2050, mà đa số xảy ra ở những nƣớc đang phát triển (https://en.org/wiki/World population). Việc đảm bảo cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho khoảng 9 tỷ ngƣời là một thách thức lớn trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác quá mức và sử dụng lãng phí, chƣa kể tác động ngày càng lớn của thiên tai. Biến đổi khí hậu có thể làm sản lƣợng nông sản, gây tổn thất đến 50% hoặc thậm chí mất trắng. Nếu không có các biện pháp đối phó, cũng nhƣ những hành động khẩn cấp, tích cực thì nền an ninh lƣơng thực sẽ bị đe dọa.

Vì thế, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay đó là tạo ra các giống cây trồng mới thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh lƣơng thực. Ở miền Bắc nƣớc ta, bệnh bạc lá là một trong những đối tƣợng gây hại thƣờng xuyên và nghiêm trọng trên cây lúa. Một số giống đang đƣợc trồng phổ biến trong sản xuất bị nhiễm nặng bệnh bạc lá. Thƣờng thì các giống kháng bạc lá tốt thì năng suất và phẩm chất không đạt yêu cầu và ngƣợc lại, các giống có năng suất phẩm chất tốt lại không kháng bệnh.

Trong những năm gần đây, có rất nhiều đề tài nghiên cứu chọn tạo giống lúa kháng bạc lá dựa trên các phép lai hữu tính và chỉ thị phân tử. Có nhiều sản phẩm của các đề tài là các dòng/giống lúa mang gen kháng bạc lá, thích ứng tốt với ngoại cảnh tuy nhiên năng suất và chất lƣợng chƣa thực sự đáp ứng nhu cầu của sản xuất cũng nhƣ thị hiếu tiêu dùng. Trong khi đó, đột biến đƣợc đánh giá là phƣơng pháp chọn tạo giống cây trồng dễ áp dụng, nhanh chóng và hiệu quả. Không giống nhƣ phƣơng pháp lai hữu tính, đột biến có ƣu điểm đó là giúp cải tiến một số đặc điểm của giống mà không làm mất đi các tính trạng tốt vốn có 2 (Pathirana, 2011).

Nếu sử dụng phƣơng pháp đột biến để cải tiến tính trạng năng suất, chất lƣợng của các dòng lúa mang gen kháng bạc lá, đồng thời dùng chỉ thị phân tử để hỗ trợ chọn lọc gen kháng sẽ tăng khả năng thành công. Chính vì vậy, luận án “Nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lƣợng một số dòng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phƣơng pháp đột biến và chỉ thị phân tử” đƣợc thực hiện với mong muốn chọn tạo đƣợc giống lúa kháng bạc lá, năng suất và chất lƣợng tốt phục vụ cho sản xuất. Mục tiêu nghiên cứu Cải tiến năng suất (đạt 6 – 7 tấn /ha) và một hoặc nhiều chỉ tiêu chất lƣợng (mùi thơm, độ trắng, độ mềm dẻo, vị ngon) các dòng lúa kháng bạc lá bằng phƣơng pháp đột biến và chỉ thị phân tử. Đối tƣợng nghiên cứu Các dòng/giống lúa kháng bệnh bạc lá, nhƣng còn hạn chế về năng suất và chất lƣợng.

Phạm vi nghiên cứu Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp, chuyên ngành Di truyền và Chọn giống cây trồng. Địa điểm thực hiện đề tài luận án - Viện Di truyền Nông nghiệp, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu Hạt nhân Wakasa-wan, Fuikui, Nhật Bản - Các thí nghiệm đồng ruộng đƣợc thực hiện tại Hà Nội và Thái Bình 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án a. Ý nghĩa khoa học của luận án Từ các kết quả thu đƣợc, nổi bật nhất là các dòng lúa triển vọng kháng bạc lá, có năng suất và chất lƣợng đƣợc cải thiện đã khẳng định tính hiệu quả của việc kết hợp phƣơng pháp đột biến và chỉ thị phân tử 3 trong cải tiến giống cây trồng, từ đó tạo cơ sở để các nhà chọn giống đột biến khác có thể nghiên cứu và áp dụng.

Ý nghĩa thực tiễn của luận án Đề tài đã chọn tạo đƣợc 5 dòng lúa đột biến triển vọng kháng bạc lá, năng suất cao (6- 7 tấn/ha), một số chỉ tiêu chất lƣợng đƣợc cải thiện. Ngoài ra, kết quả gồm 52 dòng đột biến có ý nghĩa cho chọn giống sẽ là nguồn vật liệu giá trị, có thể đƣợc khai thác, sử dụng cho các mục đích chọn tạo giống khác nhau. Đóng góp mới của luận án Đóng góp lớn nhất của luận án cho thực tiễn sản xuất và nghiên cứu đó là 5 dòng lúa đột biến kháng bệnh bạc lá có triển vọng (năng suất 6 – 7 tấn/ha, chất lƣợng đƣợc cải tiến) và tập đoàn 52 dòng đột biến vật liệu. Ngoài ra, luận án cũng đã phân tích đƣợc sai khác giữa các dòng đột biến ở mức độ phân tử thông qua nghiên cứu đánh giá bằng chỉ thị SSR và giải trình tự gen.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đột biến trong nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng 1. Phân loại các tác nhân gây đột biến Nhìn chung, các tác nhân gây đột biến có thể chia thành ba loại sau: các tác nhân hóa học (bao gồm hợp chất vô cơ, hữu cơ, các hóa chất gây ung thƣ, khói thuốc, các loại thuốc chữa bệnh.); các tác nhân vật lý (các bức xạ ion hóa – tia gamma, tia Rơnghen…; bức xạ điện từ; điện trƣờng; sóng siêu âm; nhiệt độ; khói bụi….); các tác nhân sinh học (các hormone tăng trƣởng, các tác nhân xâm nhiễm nhƣ nấm, vi khuẩn, virut…. Dựa vào khả năng ion hóa vật chất bị nhiễm xạ, có thể chia tác nhân gây đột biến thành 2 nhóm: 1) Nhóm bức xạ ion hóa: là bức xạ gây phản ứng hóa phóng xạ, tạo ra các cặp ion hóa trong môi trƣờng mà chúng thâm nhập hoặc gây ra sự kích động phân tử nhƣ: bức xạ điện tử electron, proton, tia α hay bức xạ không mang điện nơtron, tia Gamma (γ), tia Rơnghen (tia X).

2) Nhóm bức xạ không gây ion hóa: Đại diện cho nhóm này là tia tử ngoại, có độ dài bƣớc sóng từ 10-7 – 10-5 A0. Do có năng lƣợng thấp, sức xuyên thấu yếu nên khi xuyên qua các mô của cơ thể sinh vật, nó không gây ion hóa mà chỉ kích động phân tử và thƣờng đƣợc dùng để xử lý hạt phấn và bào tử. Thậm chí, trong những năm gần đây, Trung Quốc còn đƣa ra khái niệm “đột biến vũ trụ”. Theo đó, các nhà khoa học Trung Quốc đã đƣa hạt giống lên tàu vệ tinh Shijian 8, và giải thích rằng dựa vào tác động của các bức xạ vũ trụ, môi trƣờng không trọng lực, chân không và siêu sạch, sẽ tạo nên các thay đổi của vật liệu nghiên cứu (Liu và cs.

Các tác nhân hoá học đa dạng hơn nhiều về chủng loại so với tác nhân lý học, nhƣng nhƣợc điểm của chúng là phức tạp trong xử lý và 5 không an toàn cho ngƣời sử dụng. Vì vậy, hiện nay, các tác nhân vật lý ngày càng đƣợc ƣu tiên nghiên cứu và sử dụng hơn (FAO/IAEA, 2011). Bức xạ ion beam trong chọn tạo giống cây trồng Ngoài một số tác nhân phổ biến nhƣ tia X, tia gamma, hạt α, hạt nơtron. thì ngày nay, các nhà khoa học trong lĩnh vực này đã bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng bức xạ ion của các nguyên tố Li, C, H, Ar, He, Ne.

trong lĩnh vực chọn tạo giống (Shikazono và cs., 2003; Tanaka và cs., 2010; Yu và cs. Đi đầu trong việc áp dụng phƣơng pháp này phải kể đến Nhật Bản và Trung Quốc, theo đó đã có thống kê thấy rằng các nhà khoa học Nhật Bản đã bắt đầu các thử nghiệm ion beam trên đối tƣợng cây trồng từ năm 1993. Các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu về liều lƣợng chiếu cũng nhƣ ảnh hƣởng của các liều chiếu đến việc tạo ra các đột biến. Các nghiên cứu đa phần sử dụng ion beam của nguyên tử C, He hoặc Ne và kết quả cho thấy ở liều từ 10-60Gy thì tạo ra đƣợc các đột biến mong muốn (Tanaka và cs.

Nhiều nghiên cứu sâu về sự thay đổi ở mức độ phân tử đều nhận định rằng ion beam là dạng bức xạ có hệ số truyền năng lƣợng cao, có khả năng tạo ra sự xáo trộn lớn trong hệ gen, tạo nên những thiệt hại lớn trên ADN mà cơ thể không thể tự sửa chữa (Isikawa và cs., 2012; Yu và cs. Việc so sánh hiệu quả gây đột biến giữa tia gamma và bức xạ ion beam đã đƣợc rất nhiều tác giả nghiên cứu và cho rằng chiếu xạ bằng bức xạ ion beam tạo ra phổ đột biến rộng hơn so với chiếu xạ bằng tia gamma (Shikazono và cs., 2003), nhƣng về tần số đột biến thì chƣa thấy tác giả đề cập đến. Ứng dụng bức xạ ion trong chọn tạo giống cây trồng: bức xạ ion đƣợc cho rằng tạo ra nhiều đột biến đồng thời không ảnh hƣởng nhiều 6 đến sức sinh trƣởng của cây trồng khi chiếu ở liều thấp, chính vì thế bức xạ ion beam là một công cụ tuyệt vời, cho hiệu quả cao trong chọn giống đột biến (Abe và cs.) và đã đƣợc ứng dụng thành công trong chọn giống lúa có hàm lƣợng Cadmium (Cd) thấp (Ishikawa và cs. Một số tác giả nghiên cứu hiệu quả của các bức xạ ionbeam (ion carbon có hệ số truyền năng lƣợng tuyến tính trung bình là 76 và 107 keV / mm) trên cây lúa bằng cách so sánh tỷ lệ chết, tỷ lệ lép, tỷ lệ đột biến và phổ đột biến đã kết luận rằng tỷ lệ đột biến của các bức xạ ion cao hơn của các tia gamma; tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể giữa các tác nhân về tần suất và phổ đột biến (Yamaguchi và cs.

Nghiên cứu tác động của bức xạ ionbeam lên cây trồng ở mức độ phân tử cho thấy các đột biến gây ra bởi bức xạ ionbeam có khá nhiều đột biến là các đột biến lớn trên cấu trúc ADN và chỉ có một số là đột biến điểm; các thiệt hại lớn trên ADN là không thể khắc phục, và các đột biến đó thƣờng không có ý nghĩa đối với chọn giống nhƣng lại có tiềm năng tạo ra các giống, loài mới (Tanaka và cs. Khi chiếu bức xạ ionbeam lên các vật liệu sống là hạt và mô của cây chỉ thị đã thu đƣợc hàng ngàn các đột biến khác nhau; điều đó cũng khẳng định, bức xạ ion cho phổ đột biến rất rộng nên việc ứng dụng bức xạ ion rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu chức năng gen mà còn trong lĩnh vực chọn giống cây trồng (Magori và cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Nghiên cứu nâng cao năng suất chất lượng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử" của tác giả Nguyễn Thị Hồng, dưới sự hướng dẫn của GS. Lê Huy Hàm, được thực hiện tại Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng các phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử để phát triển giống lúa có năng suất cao và khả năng kháng bệnh bạc lá. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu này, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu vật liệu khởi đầu cho giống lúa kháng rầy nâu", nơi nghiên cứu các vật liệu giống lúa có khả năng kháng bệnh tương tự. Ngoài ra, bài viết "Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong việc nhân giống in vitro cây chuối già lùn sạch bệnh" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long" sẽ cung cấp thêm thông tin về biện pháp sinh học trong bảo vệ cây trồng, một lĩnh vực liên quan mật thiết đến nghiên cứu về giống cây trồng kháng bệnh.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp cải tiến trong nông nghiệp và ứng dụng công nghệ sinh học.