Lợi ích của việc giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông công cộng ở Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu định lượng đồng lợi ích của giảm phát thải khí nhà kính trong linh vực giao thông công, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn Và Biến Đổi Khí Hậu

Chuyên ngành

Biến Đổi Khí Hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

184
21
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ LƯỢNG GIÁ ĐỒNG LỢI ÍCH TRONG GIAO THÔNG CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ

1.1. Sơ đồ khối triển khai thực hiện Luận án

1.2. Cách tiếp cận thực hiện Luận án

1.3. Phương pháp định lượng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị theo hướng tiếp cận từ dưới - lên

1.4. Phương pháp lượng giá một số đồng lợi ích trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị

1.5. Đồng lợi ích về tín chỉ các-bon

1.6. Đồng lợi ích về tiết kiệm năng lượng

1.7. Đồng lợi ích về sức khỏe do ô nhiễm không khí

1.8. Đồng lợi ích về thời gian di chuyển

1.9. Giả định tính toán và số liệu sử dụng trong Luận án

1.9.1. Giả định sử dụng trong Luận án

1.9.2. Số liệu sử dụng trong Luận án

2. CHƯƠNG 2: LƯỢNG GIÁ ĐỒNG LỢI ÍCH CỦA GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TRONG GIAO THÔNG CÔNG CỘNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Kết quả tính toán phát thải KNK theo kịch bản cơ sở trong giao thông công cộng tại Hà Nội giai đoạn 2020 - 2030

2.2. Xác định giải pháp và kịch bản giảm phát thải KNK trong lĩnh vực giao thông công cộng tại Hà Nội

2.3. Hệ số chuyên chở tối thiểu của xe buýt thường

2.4. Hệ số chuyên chở tối thiểu của xe buýt nhanh BRT

2.5. Hệ số chuyên chở tối thiểu của tàu điện

2.6. Xây dựng kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang phương tiện giao thông công cộng

2.7. Xác định tiềm năng giảm phát thải KNK của kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang phương tiện giao thông công cộng tại Hà Nội giai đoạn 2020 - 2030

2.7.1. Tiềm năng giảm phát thải KNK trong chuyển đổi sử dụng xe máy sang xe buýt thường (KB01)

2.7.2. Tiềm năng giảm phát thải KNK trong chuyển đổi sử dụng xe máy sang xe buýt nhanh BRT (KB02)

2.7.3. Tiềm năng giảm phát thải KNK của kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang tàu điện (KB03)

2.8. Lượng giá đồng lợi ích theo các kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang phương tiện giao thông công cộng tại Hà Nội giai đoạn 2020 - 2030

2.8.1. Kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang xe buýt thường (KB01)

2.8.2. Kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang xe buýt nhanh BRT (KB02)

2.8.3. Kịch bản chuyển đổi sử dụng xe máy sang tàu điện (KB03)

2.9. Xác định tương quan giữa tiềm năng GPTKNK và giá trị kinh tế đồng lợi ích theo các nhóm giải pháp chuyển đổi sử dụng xe máy sang phương tiện giao thông công cộng tại Hà Nội

2.10. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi phương thức giao thông nhằm giảm phát thải khí nhà kính và đạt được các đồng lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường

3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định và lượng giá đồng lợi ích của việc giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng tại Hà Nội. Với tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, việc phát triển các giải pháp giao thông bền vững trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Các mục tiêu chính của nghiên cứu bao gồm đánh giá tiềm năng giảm phát thải carbon và các lợi ích xã hội, kinh tế từ việc chuyển đổi phương thức giao thông từ cá nhân sang công cộng.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội, đang đối mặt với thách thức lớn về ô nhiễm không khí và phát thải carbon. Theo thống kê, lĩnh vực giao thông vận tải đóng góp một phần lớn vào tổng lượng phát thải khí nhà kính. Nghiên cứu này không chỉ giúp cung cấp thông tin về hiện trạng phát thải mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

II. Tình hình phát thải khí nhà kính tại Hà Nội

Hiện trạng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng tại Hà Nội cho thấy một bức tranh đáng lo ngại. Theo số liệu, giao thông công cộng hiện tại chủ yếu sử dụng xe máy và ô tô cá nhân, dẫn đến mức phát thải cao. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, lượng phát thải sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

2.1. Phân tích hiện trạng phát thải

Theo báo cáo, vào năm 2020, lĩnh vực giao thông đã phát thải khoảng 30 triệu tấn CO2, trong đó giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ lớn. Việc sử dụng phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe máy, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Để giảm phát thải, cần phải chuyển đổi sang phương tiện giao thông công cộng như xe buýt và tàu điện, điều này không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho cư dân.

III. Giải pháp và kịch bản giảm phát thải khí nhà kính

Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng. Các kịch bản này bao gồm việc chuyển đổi từ xe máy sang xe buýt thường, xe buýt nhanh BRT và tàu điện. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm lượng phát thải mà còn mang lại nhiều lợi ích khác như tiết kiệm năng lượng và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

3.1. Kịch bản chuyển đổi phương tiện

Kịch bản chuyển đổi từ xe máy sang giao thông công cộng sẽ được thực hiện qua nhiều giai đoạn. Nghiên cứu cho thấy, nếu 30% người dùng xe máy chuyển sang sử dụng xe buýt, lượng phát thải có thể giảm đáng kể. Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ xanh trong các phương tiện giao thông cũng là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

IV. Lượng giá đồng lợi ích của giảm phát thải

Lượng giá đồng lợi ích từ việc giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông công cộng tại Hà Nội cho thấy những tác động tích cực đến kinh tế, xã hội và môi trường. Các đồng lợi ích này bao gồm tiết kiệm năng lượng, giảm thời gian di chuyển và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc giảm phát thải không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn giúp tiết kiệm chi phí cho người dân.

4.1. Các đồng lợi ích kinh tế và xã hội

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính sẽ mang lại lợi ích kinh tế lớn. Cụ thể, việc chuyển đổi sang giao thông công cộng có thể tiết kiệm hàng triệu đô la cho chính phủ và người dân. Hơn nữa, việc giảm thiểu ô nhiễm không khí cũng sẽ giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng, giảm chi phí y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã đưa ra những kết luận rõ ràng về tầm quan trọng của việc giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng tại Hà Nội. Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, nhà đầu tư và cộng đồng. Việc áp dụng các giải pháp công nghệ xanh và khuyến khích người dân sử dụng giao thông công cộng là rất cần thiết.

5.1. Đề xuất giải pháp

Để thúc đẩy việc giảm phát thải khí nhà kính, các chính sách giao thông cần được cải thiện. Cần có các chương trình khuyến khích sử dụng giao thông công cộng, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ xanh. Việc này không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về lượng giá đồng lợi ích của giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị. Chương 2: Nghiên cứu các phương pháp định lượng phát thải khí nhà kính và lượng giá đồng lợi ích trong giao thông công cộng đô thị. 7 Chương 3: Lượng giá đồng lợi ích của giảm phát thải khí nhà kính trong trong giao thông công cộng ở thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LƯỢNG GIÁ ĐỒNG LỢI ÍCH CỦA GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 1.

Tổng quan về giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị 1. Hiện trạng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị Theo Báo cáo hiện trạng toàn cầu về Giao thông vận tải và Biến đổi khí hậu năm 2018 [77], phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực giao thông vận tải được tạo ra trong quá trình vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Phần lớn khí nhà kính trong lĩnh vực này là khí CO2 do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Trong quá trình đốt cháy nhiên liệu của các phương tiện vận tải, một lượng tương đối nhỏ khí CH4 và N2O được phát ra.

Ngoài ra, một lượng nhỏ HFC phát thải do việc sử dụng điều hòa không khí trong các phương tiện giao thông vận tải và vận chuyển đông lạnh. Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế [57], phát thải KNK từ lĩnh vực giao thông vận tải trên thế giới đã tăng hơn hai lần từ năm 1970, và có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ lĩnh vực sử dụng năng lượng nào khác. Năm 2016, phát thải KNK từ lĩnh vực giao thông vận tải trên toàn thế giới đạt mức 7,6 tỷ tấn CO2tđ, trong đó, khoảng 80% mức tăng này đến từ giao thông đường bộ. Các báo cáo kiểm kê KNK của một số quốc gia phát triển và đang phát triển cho thấy hoạt động giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ lớn về tiêu thụ năng lượng và phát thải KNK.

Cụ thể, vận tải hành khách đường bộ đóng góp 53% của tổng lượng khí thải vào năm 2017 tại Canada và 58% vào năm 2019 tại Hoa Kỳ [69], [80]. 9 Theo đánh giá của UN Habitat [84], các thành phố là nhân tố chính gây ra biến đổi khí hậu khi chỉ chiếm dưới 2% diện tích bề mặt Trái đất nhưng tiêu thụ 78% năng lượng và tạo ra hơn 60% tổng lượng phát thải KNK của thế giới. Kiểm kê phát thải KNK cấp đô thị đã được phát triển rộng rãi ở nhiều quốc gia, các lĩnh vực được kiểm kê bao gồm: các tòa nhà dân cư và cơ quan; tòa nhà thương ma ̣i; các tòa nhà công nghiệp (sử dụng năng lượng); quá trình công nghiệp; vận tải trên đường (ví dụ: ô tô, xe buýt); đường sắt, hàng không và đường thủy; xử lý chất thải (xử lý nước thải, bãi chôn lấp); và khác (nông nghiệp, khai thác mỏ). Theo thống kê của nghiên cứu này, lĩnh vực giao thông vận tải và sản xuất năng lượng điện sử dụng trong các tòa nhà là hai nguồn phát thải KNK chính tại hầu hết các thành phố.

Ở Việt Nam, việc kiểm kê KNK ở cấp đô thị hiện còn hạn chế, chưa mang tính bắt buộc. Tuy nhiên, Việt Nam đã công bố báo cáo kiểm kê KNK cấp quốc gia tại 02 Báo cáo cập nhật hai năm một lần và 03 Thông báo quốc gia về biến đổi khí hậu, trong đó, thực hiện kiểm kê khí nhà kính cho các năm cơ sở 1994 (TBQG1), 2000 (TBQG2), 2010 (BUR1), 2013 (BUR2) và 2014 (TBQG3). Theo Thông báo quốc gia lần thứ ba của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu [8], lĩnh vực giao thông vận tải tiếp tục là một trong ba tiểu lĩnh vực chiếm tỷ trọng phát thải cao nhất của quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng (17,8%) cùng với công nghiệp năng lượng (31,76%) công nghiệp sản xuất và xây dựng (28,77%). Theo đó, kết quả kiểm kê KNK của lĩnh vực giao thông vận tải là 30,55 triệu tấn CO2tđ, trong đó, tiểu lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ chiếm 27,4 triệu tấn CO2tđ.

Tỷ lệ phát thải KNK trong lĩnh vực GTVT của Việt Nam năm 2014 [8] Tổng phát thải năm 2014 Tỷ lệ Nguồn phát thải KNK (Nghìn tấn CO2tđ) (%) - Đường hàng không 1.594,037 90,32 - Đường sắt 117,791 0,39 - Đường thủy 1.552,314 100 Theo Thông báo Quốc gia lần thứ ba [8], trong giai đoạn từ 1994 đến 2014, lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam đã tăng gần 3 lần, tương đương với mức tăng khoảng 179 triệu tấn CO2tđ (từ 104 triệu tấn lên 283 triệu tấn). Lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực Giao thông vận tải cũng liên tục gia tăng trong giai đoạn 1994 - 2014 từ mức 3,65 triệu tấn CO2tđ năm 1994 (chiếm 14,3% tổng lượng phát thải) lên mức 30,55 triệu tấn CO2tđ năm 2014 (chiếm 10,75% tổng lượng phát thải). Cũng theo báo cáo này, phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực Giao thông vận tải vẫn tiếp tục gia tăng và có thể đạt mức 88,1 triệu tấn CO2tđ vào năm 2030, mức tăng khoảng 263% so với năm 2014. Trong đó, lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ sẽ tiếp tục chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 90% của tổng lượng phát thải trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Tuy nhiên, các báo cáo kiểm kê khí nhà kính quốc gia của Việt Nam hiện mới được tổng hợp ở cấp quốc gia và chưa thực hiện phân tách chi tiết hơn nguồn phát trong lĩnh vực giao thông vận tải. Do đó, việc xác định lượng phát thải khí nhà kính cụ thể đối với các loại phương tiện trong lĩnh vực giao thông vận tải đối tại các đô thị ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng đô thị Giải pháp giảm phát thải khí nhà kính là các loại công nghệ cho phép việc giảm phát thải khí nhà kính so với những gì sẽ xảy ra nếu không triển khai các chính sách hoặc giải pháp (đường cơ sở) [52]. Đối với các đô thị, lĩnh vực 11 giao thông vận tải hành khách tiếp tục chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng phát thải khí nhà kính và nhu cầu đi chuyển có xu hướng tăng nhanh trong tương lai để đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội.

Với sự phát triển của các loại công nghệ mới, lĩnh vực giao thông vận thải hành khách có rất nhiều tiềm năng trong giảm phát thải khí nhà kính. Để thực hiện mục tiêu được đặt ra trong Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, nhiều giải pháp về giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông vận tải hành khách đã được đề xuất, triển khai trên thế giới và tại Việt Nam. Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 [60], phát thải khí nhà kính trực tiếp từ vận tải hành khách đô thị có thể được giảm thiểu qua các loại giải pháp sau: a) Hạn chế, giảm khoảng cách di chuyển: Chính sách phát triển khu vực và đô thị, quy hoạch không gian và tối ưu hóa quy trình vận chuyển. Singapore - Cơ quan Giao thông Đường Bộ: Trong nỗ lực tích hợp hiệu quả quy hoạch sử dụng đất và giao thông vận tải, Chính phủ Singapore đã thành lập Cơ quan Giao thông Đường bộ vào năm 1995, sáp nhập bốn đơn vị quản lý nhà nước: Đăng kiểm, Tổng công ty vận tải nhanh, Cục Giao thông và Đường bộ và Cục Giao thông vận tải đường bộ.

Cơ quan phụ trách lĩnh vực giao thông công cộng và tư nhân, quản lý các hoạt động phát triển đô thị và bất động sản ở các khu vực liền kế với các bến tàu, trạm trung chuyển nhằm khuyến khích, tối ưu hóa hoạt động giao thông vận tải. b) Chuyển đổi hình thức vận chuyển sang có hệ thống giao thông phát thải khí nhà kính thấp: Khuyến khích đầu tư vào giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng phục vụ người đi bộ và xe đạp, khuyến khích các hình thức di chuyển bằng máy bay, tàu thủy, tàu hỏa. Hàn Quốc - Cải cách giao thông công cộng Seoul năm 2004: Trước tình trạng quá tải của hệ thống giao thông tại thành phố Seoul, Chính quyền thành phố Seoul đã giới thiệu một loạt các cải cách cho hệ thống giao thông công 12 cộng của của thành phố. Cuộc cải cách đã tổ chức lại các dịch vụ xe buýt, lắp đặt hành lang Xe buýt nhanh (BRT), cải thiện sự phối hợp giữa dịch vụ xe buýt và tàu điện ngầm, và tích hợp hệ thống bán vé giữa các hệ thống giao thông công cộng.

Thành phố Seoul đã thực hiện thành công hệ thống giao thông bán công với các công ty xe buýt tư nhân hoạt động dưới sự điều hành của Chính quyền thành phố Seoul. Hệ thống này bù giá cho các công ty xe buýt tư nhân dựa trên cơ sở hành trình hoạt động thực tế thay vì số lượt chạy trên một tuyến đường. Điều này đã góp phần khuyến khích cải thiện hành vi của lái xe, hạn chế tình trạng vượt tốc độ. Ngoài ra, với số lượng hành khách sử dụng xe buýt tăng, Seoul đã hạn chế được tình trạng tắc nghẽn giao thông, giảm số lượng tai nạn giao thông.

Kết quả cho thấy, trong vòng 04 tháng kể từ quá trình cải cách hệ thống, gần 90% khách hàng bày tỏ sự hài lòng về dịch vụ GTCC [72]. c) Giảm cường độ năng lượng: Tăng cường hiệu suất của phương tiện và động cơ, sử dụng vật liệu nhẹ, tăng hệ số tải hàng hóa và tỷ lệ lấp đầy hành khách cho các chuyến xe; áp dụng công nghệ mới như xe điện. Liên minh Châu Âu - Chỉ thị dán nhãn xe 1999/94: được thực hiện bởi tất cả 28 quốc gia thành viên EU để đảm bảo rằng người tiêu dùng được thông báo về mức tiêu thụ nhiên liệu và lượng khí thải CO2 của các phương tiện giao thông vận tải. Tuy nhiên theo đánh giá, hiệu quả của thực hiện dán nhãn năng lượng xe liên quan đến mức phát thải KNK còn hạn chế trong việc thay đổi hình vi của người mua.

Khi người mua vẫn tập trung vào các tiêu chí liên quan đến khía cạnh kinh tế như tiết kiệm nhiên liệu và chi phí vận hành hơn tiêu chí liên quan đến môi trường. d) Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu phát thải thấp: Chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch bằng khí tự nhiên, điện, khí mê-tan hoặc nhiên liệu sinh học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ "Lợi ích của việc giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông công cộng ở Hà Nội" của tác giả Trần Đỗ Bảo Trung, dưới sự hướng dẫn của TS. Lương Quang Huy, thuộc Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn Và Biến Đổi Khí Hậu, năm 2022, khám phá những lợi ích quan trọng của việc giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông công cộng tại Hà Nội. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các giải pháp bền vững nhằm cải thiện chất lượng không khí và sức khỏe cộng đồng, đồng thời góp phần vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Những thông tin và phân tích trong bài có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của giao thông công cộng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại thành phố.

Để mở rộng hiểu biết của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Bài tiểu luận đề tài ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến sự phát triển kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi thảo luận về ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội, hoặc bài viết Luận án tiến sĩ về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý đất đai trong bối cảnh đô thị hóa. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội cũng sẽ mang đến những giải pháp tài chính cho các vấn đề xã hội liên quan đến phát triển đô thị. Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp thêm các góc nhìn đa dạng về các vấn đề đô thị hóa và phát triển bền vững.