CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ AN NINH NƯỚC 1. An ninh nước và các nghiên cứu về an ninh nước trên thế giới 1. Một số khái niệm về an ninh nước và thực trạng an ninh nước trên thế giới 1. Một số khái niệm về an ninh nước trên thế giới Có nhiều nghiên cứu chỉ ra những khái niệm về an ninh nước, cụ thể như sau: Theo Tổ chức cộng tác vì nước toàn cầu (GWP) thì “an ninh nước là sự đảm bảo an toàn nguồn nước ở mọi cấp độ từ gia đình đến toàn cầu, hay cụ thể là mọi người đều được cung cấp đủ nước sạch với chi phí phải chăng để phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, đồng thời đảm bảo môi trường tự nhiên được bảo tồn và phát huy” [29].
Theo Tuyên bố Cấp Bộ trưởng của Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 2 năm 2000, an ninh nước đồng nghĩa với việc “đảm bảo rằng các hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái liên quan được bảo vệ và củng cố; đảm bảo phát triển bền vững và ổn định chính trị; mỗi người đều được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch với chi phí vừa phải để có được một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc; các cộng đồng dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ trước rủi ro từ những thảm họa liên quan đến nước”. Bên cạnh đó năm 2013, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại đưa ra định nghĩa rất đơn giản là: ‟An ninh nước là học cách sống chấp nhận với một mức độ rủi ro về nước‟ [39]. [28], “an ninh nước là với một lượng nước có số lượng và chất lượng chấp nhận được, đảm bảo phục vụ được các 11 nhu cầu về sức khỏe, sinh kế, hệ sinh thái, sản xuất, đồng thời đảm bảo không có rủi ro đối với con người, môi trường và nền kinh tế. và nnk [20] thì an ninh nước là việc chất lượng, số lượng nước ngọt luôn được đảm bảo, duy trì, phát triển được các hệ sinh thái có liên quan; đồng thời đảm bảo được việc phát triển bền vững và ổn định chính trị; người dân được tiếp cận đủ nước sạch, hợp vệ sinh, ở mức phí chấp nhận được, qua đó có được cuộc sống khỏe mạnh, không bị những rủi ro từ những nguy cơ liên quan đến nước.
Ủy ban về Nước của Liên Hợp Quốc (UN-Water) [42] đưa ra định nghĩa an ninh nước một cách đầy đủ nhất là: khi một cộng đồng người dân được đáp ứng đủ nước một cách cơ bản cả về số lượng lẫn chất lượng để duy trì cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng không bị ảnh hưởng bởi vấn đề ô nhiễm nước và các thảm hoạ liên quan đến nước; và quan trọng là tất cả các yếu tố nêu trên phải được duy trì trong điều kiện hệ sinh thái vẫn được bảo tồn, cuộc sống hoà bình, chính trị ổn định. Thực trạng an ninh nước trên thế giới Nguồn nước ngọt của nhiều khu vực trên thế giới đang có nguy cơ cạn kiệt, cùng với tình trạng gia tăng dân số, lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường và quá trình nóng lên toàn cầu. Một báo cáo của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO) [26] cho rằng, thế giới hiện nay có khoảng 700 triệu người thuộc 43 quốc gia đang gặp phải tình trạng khan hiếm nước, dự báo đến năm 2025 sẽ có khoảng 1,8 tỷ người phải sống ở các khu vực không có nước ngọt; thế giới đang thiếu nước và việc mất an ninh nước đang và sẽ là nguyên nhân dẫn đến những bất đồng, xung đột nghiêm trọng giữa các quốc gia. Tình trạng mất an ninh nước xảy ra trên thế giới hiện nay thường tập trung ở hai khu vực: khu vực có địa hình tự nhiên khô hạn, nhiều sa mạc, chịu sự tác động của biến đổi khí hậu và tăng trưởng dân số (ví dụ: Châu Phi, Bán 12 đảo Arab); khu vực có nguy cơ xảy ra xung đột do nguồn nước phân bổ, chia sẻ không công bằng (ví dụ như Châu Á).
Ở Châu Phi, với nền nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào lượng nước mưa tự nhiên, cuộc sống của nông dân đang bị đẩy vào tình trạng đói nghèo do thiếu nước và diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp. Trong khi đó Châu Á là nơi tương đối khô hạn, được dự báo sẽ là khu vực có nguy cơ xảy ra khủng hoảng về nước nặng nề nhất trên thế giới; đây là khu vực hiện có lượng nước bình quân trên đầu người bằng 1/10 lượng nước ở các nước Nam Mỹ hay Australia, New Zealand, thấp hơn ¼ lượng nước ở Bắc Mỹ, bằng 1/3 của Châu Âu nhưng lại là khu vực có nhu cầu sử dụng nước lớn nhất trên toàn cầu, bởi khu vực hiện đang nhiều quốc gia có nền kinh tế năng động nhất trên thế giới. Về khía cạnh các thảm họa, khoảng 90% các thảm họa là liên quan tới nước, bao gồm: lũ lụt, hạn hán, bão áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng do bão, và sạt lở đất [10]. Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là khu vực dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các thảm họa liên quan tới nước do dân số gia tăng nhanh chóng và cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn; hiện là nơi sinh sống của 4,5 tỷ người, sử dụng khoảng 65% nguồn cung cấp nước của thế giới.
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về an ninh nước trong điều kiện biến đổi khí hậu 1. Phương pháp đánh giá an ninh nước Việc đo lường an ninh nước không đơn giản và nhiều công cụ đã được thiết lập để lượng hóa đối tượng này [48]. Ví dụ, Chỉ số căng thẳng nước Falkenmark đánh giá sự sẵn có nước ngọt tái tạo hàng năm của một quốc gia trên đầu người và xếp các quốc gia có kết quả thấp hơn 1000 m3/người ở mức độ thiếu nước; chỉ số đơn giản này hiện nay vẫn được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, chỉ số này còn có nhiều thiết sót đó là bỏ qua khả năng tiếp cận nguồn nước. 13 Trong một đánh giá cho Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương [29], an ninh nước của 46 quốc gia có những điều kiện tài nguyên nước khác nhau và phát triển khác nhau được đánh giá thông qua 5 chỉ số, bao gồm: các nhu cầu căn bản, sản xuất lương thực, dòng chảy môi trường, quản lý rủi ro và sự độc lập.
Đánh giá này là tương đối toàn diện, so sánh được nhiều các quốc gia với nhau nhưng phải đảm bảo có đủ số liệu, vì trên thực tế mỗi quốc gia có hệ cơ sử dữ liệu, cách thức tính toán, ngoại suy khác nhau. Trong nghiên cứu về chỉ số an ninh nước của Xiaoli J. và nnk [50], để tính được an ninh nước cần 03 nhóm chỉ số phụ gồm tài nguyên nước, môi trường nước và kinh tế - xã hội, trong đó sử dụng 15 yếu tố được lựa chọn để thiết lập một đánh giá tổng hợp về an ninh nước ở lưu vực sông Hoàng Hà. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: (i) Hợp phần tài nguyên nước; (ii) Hợp phần môi trường nước; (iii) Hợp phần kinh tế - xã hội.
và các cộng sự chia an ninh nước thành 5 cấp độ: an ninh, tương đối an ninh, chạm ngưỡng an ninh, tương đối mất an ninh và không an ninh. Tương ứng với mỗi cấp độ an ninh nước, mỗi chỉ số thành phần đều có ngưỡng riêng (Hình 1. [44] đã tổng hợp trên phạm vi toàn cầu những yếu tố ảnh hưởng giữa an ninh nước với con người và đa dạng sinh học, trong đó tập trung xác định hai chuỗi chỉ số: (i) an ninh nước với con người, (ii) an ninh nước với đa dạng sinh học. Các chỉ số thành phần thu thập, phục vụ tính toán gồm 23 chỉ số, được tổng hợp thành 4 nhóm chính: (i) mất cân bằng, (ii) các yếu tố sinh học, (iii) phát triển tài nguyên nước, (iv) ô nhiễm.
Để đánh giá mức độ căng thẳng giữa an ninh nước với con người và đa dạng sinh học, Vorosmarty C. sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia theo trọng số. Kết quả điểm đánh giá đầu ra của các yếu tố nằm trong khoảng từ 0 đến 1, phản ánh mức độ căng thẳng tương đối của mỗi yếu tố thành từng cấp. Sơ đồ nghiên cứu của Xiaoli Jia Trong đó: TOPSIS: kỹ thuật sắp xếp đồng dạng (technique for order preference by similarity to ideal solution) GRA: phương pháp phân tích vùng xám (gray retional analysis) VS: tệp chưa rõ (vague sets) ME: mô hình yếu tố vật chất (matter element) SPA: phương pháp phân tích theo cặp (set pair analysis) FAHP: quy trình phân tích thứ bậc (fuzzy analytical hierarchy process) FCA: phương pháp phân tích tổ hợp (fuzzy cluster analysis) 15 Vào năm 2011, Mehr S.
[38] đã phát triển bộ chỉ số về an ninh nước dựa trên phương pháp Delphi. Bộ chỉ số bao gồm 03 nhóm chỉ số: (i) kinh tế; (ii) môi trường; (iii) xã hội. Qua tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới, nhìn chung cách tiếp cận trong việc đánh giá an ninh nước chủ yếu thông qua bộ chỉ số về an ninh nước. Tùy thuộc các nghiên cứu khác nhau với các khu vực, đối tượng nghiên cứu, sự sẵn sàng của số liệu khác nhau mà bộ chỉ số về an ninh nước sẽ được thiết kế phù hợp đảm bảo đưa ra được các kết quả đầu ra một cách khoa học, tin cậy nhất.
Năm 2019, nghiên cứu của Hassan T. và nnk [30] về an ninh nước đô thị - trong đó có chỉ ra khung đánh giá về an ninh nước bao gồm bốn nhóm chỉ số chính như Bảng 1. Bộ chỉ số an ninh nước đô thị Chỉ số Cấp 1 Chỉ số Cấp 2 Ecosystem State of pollution (Hiện trạng dân số) (Hệ sinh thái) Good ambient water quality (Chất lượng nước) Change of water-relative (Thay đổi về nước) Green roofing (Lớp phủ xanh) Green surfaces (Drainage…) (Bề mặt xanh (Thoát nước)) Effectiveness of storm network (Hiệu quả của mạng lưới bão) Climate change and GHG emission emitted from the system (Phát thải khí nhà kính) water related hazards Public health (water borne diseases) (Sức khỏe cộng đồng (bệnh (Biến đổi khí hậu và liên quan đến nước)) các thiên tai liên quan Frequency of flash floods (Tần suất xuất hiện lũ quét) đến nước) No.