CHƯƠNG I. Tính cấp thiết của đề tài Tài nguyên nước (TNN) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của quốc gia. Tài nguyên nước đang ngày càng khan hiếm, suy giảm cả về số lượng và chất lượng, kèm theo đó hạn hán và lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng và đó chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng về nước. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức, không chỉ liên quan đến các yếu tố nội tại như gia tăng nhu cầu sử dụng nước hay ô nhiễm nguồn nước mà còn liên quan đến sử dụng nước ở các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kông, biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng.
Do đó, việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Trong lĩnh vực Quản lý Tài nguyên nước, giám sát môi trường được đánh giá là một công cụ quan trọng để cung cấp thông tin, số liệu đầu vào chủ chốt cho các nhà quản lý ra quyết định, cho các nhà khoa học tiến hành các khảo sát và nghiên cứu. Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), phát triển bền vững TNN trong bối cảnh BĐKH, cần thiết phải phân tích hiện trạng và đánh giá các thách thức một cách một cách khoa học và có hệ thống. Trong đó, mô hình phân tích DPSIR được xem là một công cụ hiệu quả để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên, đặc biệt là TNN.
An Giang là tỉnh có nguồn tài nguyên nước khá phong phú, giàu phù sa, nhưng do tác động của BĐKH, tốc độ gia tăng dân số, sự phát triển của các hoạt động KT-XH cũng đã tạo sức ép đến tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh, đòi hỏi phải có những giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, hợp lý và bền vững. Vì vậy đề tài “Đánh giá hiện trạng khai tác và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh An Giang và đưa ra biện pháp quản 1 lý” được thực hiện nhằm hướng tới xây dựng giải pháp quản lý hiệu quả nguồn nước tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh An Giang, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hợp lý và hiệu quả nhằm bảo vệ và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước trong tương lai. Nội dung nghiên cứu - Nội dung 1: Tổng quan về hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Nội dung 2: Đánh giá thực trạng và những thách thức trong quản lý tài nguyên nước tại tỉnh An Giang. - Nội dung 3: Đề xuất các biện pháp quản lý cụ thể và hiệu quả dựa trên các kết quả phân tích và đánh giá từ mô hình DPSIR. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tổng hợp các dữ liệu và tài liệu để đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước, tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin chi tiết từ nhà quản lý và hộ dân tại địa phương, từ đó áp dụng phương pháp phân tích DPSIR để đánh giá tác động và đề xuất biện pháp quản lý cho tỉnh An Giang. 2 CHƯƠNG II.
Tổng quan về quản lý tổng hợp tài nguyên nước Nước là yếu tố quan trọng đối với phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời cũng có chức năng cơ bản trong việc duy trì tính toàn vẹn của môi trường tự nhiên. Hiện nay, Quản lý tổng hợp tài nguyên Nước được xem là một giải pháp nhằm hướng đến việc quản lý hiệu quả, công bằng và bền vững tài nguyên nước (Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2015). Mitchell (1990) đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một qua tình giải quyết các vấn đề quản lý sử dụng nước gồm các thành phần chu trình thủy văn, vượt qua ranh giới giữa nước, đất và môi trường, tạo lập mối liên hệ nội tại của nước với các chính sách rộng lớn hơn phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế và quản lý môi trường khu vực”. Đến năm 2000, Tổ chức cộng tác vì nước toàn cầu (Global Water Partnership – GWP) đã đưa ra định nghĩa và được sử dụng phổ biến đến nay là “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi các lợi ích kinh tế và phúc lượi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến phát triên bền vững hệ sinh thái thiết yếu” (Agarwal et al.
Trong Chương 18 của Chương trình nghị sự 21 định nghĩa: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức nước là một bộ phận nội tại của hệ sinh thái, là nguồn tài nguyên thiên nhiên và là loại hàng hóa kinh tế và xã hội. Vì mục đích này, tài nguyên nước cần phải được bảo vệ, có tính đến chức năng của các hệ sinh sinh thái nước và sự tồn tại mãi mãi của tài nguyên, để có thể thỏa mãn và dung hòa các nhu cầu về nước cho các hoạt động của con người” (United Nation Sustainable Management, 1992). Quản lý tổng hợp tài nguyên nước được nhìn nhận với ý nghĩa là: một quá trình để quản lý tài nguyên nước ngày một hiệu lực hơn vì mục tiêu phát triển bền vững; một quan điểm bao trùm trách nhiện nhà nước đến trách nhiệm 3 các tổ chức và cộng đồng khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và một cách tiếp cận vận dụng hài hòa các dạng thể chế quản lý tài nguyên nước trong dịch vụ nước (Secretariat,1992). Quản lý tổng hợp nguồn nước không phải là vạch ra một kế hoạch, đó là một quá tình mà trong đó có sự nỗ lực quản lý tài nguyên nước hiệu quả hơn trên quan điểm quản lý tổng hợp.
Mỗi quốc gia hoặc khu vực điều có đặc điểm riêng về địa lý và khí tượng; một lịch sử dùng nước, phong tục tập quán từng vùng, và những nhận định về các giá trị khác nhau bắt nguồn những nhân tố trên. Thêm vào đó mỗi nước mỗi vùng lại có những hoàn cảnh phát triển kinh tế khác nhau. Do đó, nếu tình hình thực tế và nhận định về các giá trị của mỗi nước hoặc mỗi khu vực không được tôn trọng, khó có thể xây dựng công tác quản lý tài nguyên nước tổng hợp hiệu quả và phù hợp (Sithole, 2000). Vì vậy quản lý tài nguyên nước tổng hợp một cách đúng đắn và phù hợp không thể chỉ dựa trên một quy tắc hay một tiêu chuẩn đơn thuần, do đó quản lý tài nguyên nước tổng hợp cần được thiết lập trên cơ sở các đặc trưng riêng của mỗi nước hay môi khu vực (Anne, 1997).
Hầu hết ở các nước trên thế giới, công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước có nội dung là ba chân trụ: (1) Tạo môi trường thuận lợi: (i) Chính sách và (ii) Pháp luật: (2) Khung thể chế: (i) Trung ương – địa phương, (ii) Lưu vực sông và (iii) Công tư kêt hợp; (3) Công cụ quản lý: (i) Đánh giá tài nguyên nước, (ii) Thông tin tài nguyên nước và (iii) Công cụ phân bổ tài nguyên nước (Agarwal et al. Để thực hiện việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước, hệ thống các tổ chức quản lý đac được thành lập. Tuy nhiên không nhất thiết phải có một hệ thống pháp luật, một hệ thống hành chính hay một tổ chức quản lý. Điều này là không khả thi trong một vài trường hợp.
Điều cần thiết là thành lập một hệ thống mà trong đó có sự xét xử công bằng giũa các luật, các hệ thống và tổ chức. Khi tiến hành quản lý nước tổng hợp, sự hợp tác giữa các quốc gia và các tổ chức là rất có lợi. Theo quan điểm này, việc thiết lập quan hệ hợp tác lẫn nhau giữa các quốc gia và các tổ chức có cùng hoàn cảnh và trình độ ttrong cùng điều kiện địa lý, khí hậu và việc sử dụng nguồn nước là rất cần thiết (Mwendera et al. Tổng quan về quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước Quản lý nhà nước về môi trường nước là việc Nhà nước sử dụng tổng hợp có chọn lọc các biện pháp, pháp luật, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ số lượng, chất lượng môi trường nước phục vụ phát triển kinh tế- xã hội quốc gia và quyền con người sống trong môi trường trong lành.
Xuất phát từ những đặc điểm mang tính đặc thù của môi trường nước như: Môi trường nước chịu sự tác động của nhiều nguồn ô nhiễm (hoạt động sống của con người, phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp và dịch vụ.) do nhiều chủ thể gây ra do vậy quản lý nhà nước về môi trường nước có một số đặc điểm cơ bản sau: + Có liên quan đến lợi ích và sự tham của nhiều chủ thể (các bộ ngành Trung ương, địa phương), có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực ( rác thải, nước thải, khai thác khoáng sản, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, du lịch…) + Chịu tác động của nhiều nhân tố: Chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội, đầu tư, thương mại quốc tế, an ninh, quốc phòng, tổ chức thực hiện QLNN. + Chịu sự tác động và sức ép ngày càng lớn từ việc phát triển công nghiệp (các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái. Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất).
Phát triển kinh tế công nghiệp nói chung thì hệ quả là gia tăng áp lực cho việc bảo vệ môi trường nước đối với các cơ quan QLNN.