Chương 1 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO CÁC HỘ NGHÈO 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO CÁC HỘ NGHÈO Ở NƯỚC NGOÀI 1. Nghiên cứu về khái niệm, sự cần thiết đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ nghèo Vào những năm 1970, nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đã lo ngại về nạn đói đang diễn ra ở châu Phi và châu Á. Theo đó, một nỗ lực phối hợp đã được thực hiện để tập trung nhiều nguồn lực hơn vào việc tăng nguồn cung cấp lương thực trên toàn cầu.
Từ mối quan tâm này, các trung tâm CGIAR (Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (The Consultative Group on International Agricultural Research - CGIAR) được thành lập năm 1971 với sự hỗ trợ bởi WB, FAO và UNDP để thống nhất các Tổ chức thành viên tham gia vào nghiên cứu cho một tương lai an toàn thực phẩm toàn cầu, trong đó chú trọng vào điều phối các nỗ lực nghiên cứu nông nghiệp quốc tế nhằm giảm nghèo và đạt được an toàn thực phẩm ở những quốc gia đang phát triển) đã ra đời và có sự gia tăng đáng kể về nguồn cung cấp lương thực. Tuy nhiên, đến những năm 1980, người ta đã nhận ra ngay cả khi có quyết tâm đáng kể ở cấp quốc gia, nhiều hộ gia đình vẫn không có đủ lương thực cho một cuộc sống khỏe mạnh. Không ít hộ gia đình không có đủ thu nhập hoặc nguồn lực để đổi lấy thực phẩm đáp ứng nhu cầu của mình. Những tìm kiến giải pháp được chuyển từ an ninh lương thực quốc gia sang quan tâm đến an ninh lương thực và tình trạng dinh dưỡng của các hộ gia đình và cá nhân.
Việc nghiên cứu hệ thống canh tác được tập trung vào hoạt động sản xuất của các hộ nghèo và đưa ra cái nhìn mới về cách quyết định sản xuất và tiêu dùng của các hộ gia đình. Từ đó, đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về đảm bảo SKBV cho các hộ nghèo. luan an 10 Trong cuốn “The Sustainable Livelihood Approach to Poverty Reduction” (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo) của Lasse Krantz [115] cho rằng khái niệm SKBV là một nỗ lực vượt ra khỏi các định nghĩa và cách tiếp cận thông thường về xóa nghèo. Bởi xóa nghèo là quá hẹp vì chúng chỉ tập trung vào một số khía cạnh hoặc biểu hiện của nghèo đói như thu nhập thấp, hoặc không xem xét các khía cạnh quan trọng khác của nghèo đói như tính dễ bị tổn thương và bị xã hội loại trừ.
Do vậy, cần phải chú ý nhiều hơn đến các yếu tố và quá trình khác nhau hạn chế hoặc nâng cao khả năng kiếm sống của người nghèo một cách bền vững về mặt kinh tế, sinh thái và xã hội. Việc nghiên cứu SKBVphải cung cấp một cách tiếp cận chặt chẽ và tổng hợp hơn đối với đói nghèo. Cuốn “Sustainable Livelihood Approach A Critique of Theory and Practice. Springer Science” [129] (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững: Phê bình lý thuyết và thực hành) của Morse, S.
(2013), đã đặt ra vấn đề làm thế nào ta có thể áp dụng các nguyên tắc bền vững trong thế giới thực đến với các cộng đồng ở các quốc gia đang phát triển, nơi mất an toàn thu nhập là tiêu chuẩn khó khăn? Từ đó, nêu một số câu trả lời thực tế, giải thích các quy tắc của “phương pháp tiếp cận SKBV” thông qua nghiên cứu điển hình về một chương trình tài chính vi mô ở Châu Phi với mục tiêu giúp tăng cường hoạt động tài chính hiện có thông qua liên kết chặt chẽ hơn giữa các cộng đồng địa phương và các nhà tài trợ quốc tế. Từ đó, khẳng định một cách tiếp cận SKBV mang nhiều sắc thái và toàn diện hơn, không chỉ bao gồm cách kiếm sống bền vững mà còn bao gồm cách có thể sống bền vững. Tao (2009) trong chuyên đề “A Livelihood Approach to Sustainability” [131] (Phương pháp tiếp cận sinh kế đối với tính bền vững) cho rằng mặc dù phát triển bền vững đã nhận được sự hoan nghênh rộng rãi, nhưng việc áp dụng khái niệm này vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, khi được áp dụng và điều chỉnh bởi một lĩnh vực đơn lẻ như luan an 11 du lịch, các vấn đề phát sinh thêm do nhiều thách thức về tính bền vững liên ngành, liên quan đến sự cạnh tranh để sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm giữa các mục đích sử dụng tiềm năng khác nhau.
Phương pháp tiếp cận SKBV phải cung cấp một cách nhìn cụ thể hướng tới và một khung SKBV để hướng dẫn việc nghiên cứu và thực hành trong tương lai liên quan đến tính bền vững trong phát triển. Cuốn “A Sustainable Livelihood Approach to Poverty Reduction - An Empirical Analysis of Mizoram, the Eastern Extension of the Himalaya” [133] (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo - Phân tích thực nghiệm về Mizoram, Phần mở rộng phía đông của dãy Himalaya) (2017), tác giả Vishwambhar Prasad Sati và Lalrinpuia Vangchhia đã coi phương pháp tiếp cận SKBV để giảm nghèo đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới, chủ yếu ở các nước đang phát triển và thế giới thứ ba, nơi sinh kế chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng từ canh tác truyền thống. Bang Mizoram có nền kinh tế nông nghiệp với khoảng 37% người dân sống dưới cảnh nghèo đói và 17% người dân sống trong tình trạng nghèo kinh niên. Tác giả đã nêu cách tiếp cận SKBV và vốn sinh kế trong ngụ ý cung cấpnhận thức về mục tiêu, phương pháp luận và tổng quan tài liệu để nghiên cứu SKBV ở các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay.
Chuyên đề “Sustainable rural livelihoods: practical concepts for the 21st century” [123] (Sinh kế nông thôn bền vững: các khái niệm thiết thực cho Thế kỷ 21) của Chamber và Conway (UK), thảo luận tầm quan trọng của khái niệm SKBV. Cho rằng, nó phải dựa trên các ý tưởng về năng lực, công bằng và tính bền vững một cách chuẩn mực, mỗi ý tưởng vừa là mục đích vừa là phương tiện. Sinh kế bao gồm con người, khả năng và phương tiện sống của họ gồm lương thực, thu nhập và tài sản. Tài sản hữu hình là tài nguyên và kho lưu trữ, còn tài sản vô hình là yêu cầu và quyền truy cập.
Sinh kế bền vững với môi trường khi nó duy trì hoặc nâng cao tài sản địa phương và toàn luan an 12 cầu mà sinh kế phụ thuộc vào đó và có tác động có lợi cho các sinh kế khác. Một SKBV về mặt xã hội, có thể đối phó và phục hồi sau căng thẳng và các cú sốc, và cung cấp cho các thế hệ tương lai. Việc nhận thức khái niệm SKBV cũng là cần thiết để hoạch định chính sách và giải quyết thực tiễn giúp nâng cao năng lực, cải thiện công bằng và tăng tính bền vững của xã hội. Nghiên cứu của Mensah, Emmanuel Joseph (2011): “The Sustainable Livelihood Framework: A Reconstruction” [118] (Khung SKBV: Tái thiết), đưa ra một cấu trúc mới của khung SKBV, trong đó quyền sử dụng tài sản của các hộ gia đình có tầm quan trọng hơn hình thức mà chúng tồn tại.
Sinh kế bền vững được xác định nội sinh bởi sự cân bằng giữa kỳ vọng sinh kế của hộ gia đình và con đường tiến hóa mà các thể chế tuân theo khi tác động phản hồi lại tích lũy của hộ gia đình khi can thiệp vĩ mô và vi mô. Avijit Mistri, Bhaswati Das mốt tác giả thuộc Tổ chức Di cư và SKBV trong bài “Environmental Change, Livelihood Issues and Migration” [96] (Thay đổi môi trường, các vấn đề sinh kế và di cư), nêu mục tiêu của SKBV là đối phó và phục hồi sau các tác nhân gây căng thẳng và sốc, duy trì hoặc nâng cao năng lực và hoạt động của các hộ nghèo, đồng thời mang lại cơ hội sinh kế cho các thế hệ tương lai. Di cư là một trong những kết quả của chiến lược sinh kế. Phương pháp Tiếp cận SKBV giúp một người hiểu sinh kế của mọi người và các chiến lược của họ có liên quan đến sinh kế đó.
Chandan Kumar Panda trong chuyên đề “Progression of sustainable Livelihoods Approach: A Framework for Rural Reconstruction” [100] (Tiến bộ của phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững: Khung tái thiết nông thôn) đã tổng hợp để xác định khái niệm "Sinh kế nông thôn bền vững" nhằm cung cấp nhận thức cho chương trình giảm nghèo một cách bền vững. Ông đặc biệt tập trung vào tầm quan trọng của cải tiến công nghệ, coi đó là một phương tiện giúp mọi người thoát nghèo. Sinh kế bền vững đòi hỏi phải giải quyết năng lực của người dân trong việc tạo ra và duy trì phương tiện sống của họ. Phải luan an 13 có khả năng đối phó và phục hồi sau những căng thẳng và cú sốc.
Nêu quan điểm của DFID về năm loại tài sản hoặc vốn cần thiết đảm bảo SKBV gồm vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính. Bài “Sustainable Livelihoods: A Case Study of the Evolution of DFID Policy” [135] (Sinh kế bền vững: Nghiên cứu điển hình về sự phát triển của chính sách DFID) của Justice Mensah & Francis Enu-Kwesi nghiên cứu khám phá những tác động của vệ sinh môi trường đối với ba hoạt động sinh kế ven biển gồm đánh bắt cá, du lịch và sản xuất muối. Dựa trên dữ liệu thu thập được và sử dụng các phương pháp tiếp cận theo chủ đề, tác giả đã cho thấy điều kiện vệ sinh ảnh hưởng đến sinh kế liên quan đến du lịch, đánh bắt cá và sản xuất muối thông qua những tác động của nó đối với sức khỏe, năng suất, thu nhập, đảm bảo việc làm và tính bền vững của môi trường vật chất. Từ đó đưa ra thông điệp cần thay đổi hành vi vệ sinh của các tổ chức có trách nhiệm liên quan của vệ sinh không chỉ đối với sức khỏe con người mà còn cả mối liên hệ giữa vệ sinh và sinh kế bền vững nói chung.
Để cung cấp nhận thức về đảm bảo SKBV, Cục phát triển quốc tế (Department for International Development - DFID) trong một tài liệu “Sustainable livelihoods Guidance Sheets” [105] đã xây dựng một khung lý thuyết về sinh kế coi đó là công cụ để nâng cao hiểu biết về sinh kế, đặc biệt là sinh kế của người nghèo và làm cơ sở khi vận hành các giải pháp SKBV. Những quan niệm về SKBV và đảm bảo SKBV nêu trên là những căn cứ quan trọng để tác giả luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu trong đề tài này.