Luận văn phát triển nông thôn mới huyện Chợ Gạo, Tiền Giang - UEH

Luận văn thạc sĩ nông thôn mới huyện Chợ Gạo nghiên cứu thực trạng, đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Trường đại học

Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn thạc sĩ nông thôn mới huyện Chợ Gạo cho gạo

Luận văn thạc sĩ về phát triển nông thôn mới (NTM) tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tập trung nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống người dân thông qua mô hình NTM. Đề tài phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương, đánh giá tiềm năng sản xuất lúa gạo - ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng kết hợp khảo sát thực địa để thu thập dữ liệu. Kết quả chỉ ra huyện Chợ Gạo sở hữu lợi thế đất phù sa màu mỡ, khí hậu thuận lợi cùng hệ thống thủy lợi đồng bộ. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vốn đầu tư, hạn chế trong liên kết sản xuất và biến đổi khí hậu đang đe dọa sự phát triển bền vững. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất lúa gạo được xác định là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất và chất lượng gạo địa phương.

1.1. Khái niệm phát triển nông thôn mới nâng cao

Phát triển nông thôn mới nâng cao là giai đoạn tiến hóa từ mô hình NTM cơ bản, hướng tới nâng cao chất lượng sống toàn diện cho cư dân nông thôn. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Đảng, đây là quá trình chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp công nghệ cao, gắn với bảo vệ môi trường. Tại huyện Chợ Gạo, mô hình này bao gồm 19 tiêu chí đánh giá như hạ tầng giao thông, giáo dục y tế, môi trường sống và thu nhập bình quân đầu người. Điểm khác biệt so với giai đoạn trước là tập trung vào chất lượng hơn số lượng, khuyến khích sản xuất hàng hóa quy mô lớn thay vì nhỏ lẻ.

1.2. Vai trò của huyện Chợ Gạo trong sản xuất lúa gạo

Huyện Chợ Gạo là vựa lúa trọng điểm của tỉnh Tiền Giang, đóng góp 15% sản lượng lúa toàn tỉnh. Địa phương sở hữu 7.033 ha đất trồng thanh long - cây trồng chủ lực, trong đó 4.149 ha thanh long ruột đỏ có giá trị kinh tế cao. Hệ thống thủy lợi do huyện quản lý gồm 3 trạm bơm lớn cung cấp nước tưới tiêu ổn định. Năng suất lúa trung bình đạt 6,2 tấn/ha, cao hơn mức bình quân tỉnh. Tuy nhiên, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng vào mùa khô ảnh hưởng đến sản xuất. Việc xây dựng NTM nâng cao sẽ giúp huyện duy trì vị thế vựa lúa gạo quốc gia thông qua ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước và giống lúa chịu mặn.

II. Phân tích thực trạng phát triển nông thôn mới huyện Chợ Gạo

Huyện Chợ Gạo đã đạt 17/19 tiêu chí NTM vào năm 2020, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong phát triển bền vững. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 71 triệu đồng/năm, cao hơn mức trung bình tỉnh nhưng chênh lệch giữa nông thôn và thành thị vẫn lớn. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực khi tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 20,33% (2010-2015) lên 33,22% (2015-2020). Nông nghiệp giảm từ 50,6% xuống 48,02% nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao. Hạn chế nổi cộm là tình trạng ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức, thiếu hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt. Biến đổi khí hậu gây hạn hán, xâm nhập mặn ảnh hưởng 3.000 ha đất sản xuất. Nguồn lực tài chính từ ngân sách địa phương còn hạn chế, phụ thuộc nhiều vào vốn trung ương.

2.1. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2010 2022

Giai đoạn 2010-2022, huyện Chợ Gạo ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,9%/năm, vượt mục tiêu đề ra. Hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ với 100% tuyến đường liên xã được nhựa hóa. 100% trường học đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 12,5% xuống còn 3,8%. Diện tích cây thanh long tăng gấp 3 lần, đạt 7.033 ha với sản lượng 150.000 tấn/năm. Huyện được công nhận đạt chuẩn NTM năm 2018, là huyện đầu tiên của tỉnh Tiền Giang. Mô hình cánh đồng mẫu lớn được nhân rộng, năng suất lúa tăng 15% nhờ áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến.

2.2. Tồn tại và thách thức trong phát triển nông thôn mới

Dù đạt nhiều thành tựu, huyện Chợ Gạo đối mặt thách thức lớn về biến đổi khí hậu. Hạn hán năm 2016-2017 khiến 2.500 ha đất nông nghiệp thiếu nước tưới, thiệt hại 300 tỷ đồng. Tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng 4 xã ven sông Tiền. Nguồn lực tài chính hạn chế khiến huyện khó đầu tư hạ tầng chống chịu thiên tai. Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất lúa gạo còn thấp, chủ yếu canh tác theo phương pháp truyền thống. Liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu chuỗi giá trị bền vững. Chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng nông thôn mới huyện Chợ Gạo

Để phát triển NTM bền vững, huyện Chợ Gạo cần tập trung vào 3 trụ cột: nâng cao năng suất lúa gạo, phát triển kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu. Giải pháp trọng tâm là đầu tư hệ thống thủy lợi chống hạn mặn, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước và giống lúa chịu mặn. Huyện nên thành lập hợp tác xã nông nghiệp quy mô lớn, liên kết với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Cần tăng cường đào tạo nông dân về kỹ thuật canh tác hiện đại, quản lý môi trường. Giải pháp tài chính bao gồm huy động vốn từ ngân sách Trung ương, vốn FDI và vốn xã hội hóa. Huyện cũng cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai và đào tạo cộng đồng ứng phó.

3.1. Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất lúa gạo

Huyện Chợ Gạo nên ưu tiên ứng dụng công nghệ 4.0 trong sản xuất lúa gạo như hệ thống tưới tự động điều khiển từ xa, cảm biến đo độ ẩm đất. Sử dụng giống lúa chất lượng cao như OM 18, RVT có năng suất 7-8 tấn/ha, chống chịu sâu bệnh tốt. Áp dụng mô hình cánh đồng lớn kết hợp với truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Xây dựng trung tâm giống lúa tại xã Tân Thuận Bình để cung cấp giống chất lượng cho nông dân. Cần tăng cường hợp tác với Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long để chuyển giao công nghệ mới. Mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP sẽ nâng cao giá trị thương phẩm.

3.2. Phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường

Huyện cần xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất lúa gạo, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp. Ứng dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ rơm rạ, vỏ trấu sau thu hoạch. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại các xã. Khuyến khích doanh nghiệp thu mua rơm rạ làm nguyên liệu sản xuất viên nén sinh khối. Áp dụng chính sách khuyến khích nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường nông thôn. Hợp tác với các tổ chức quốc tế như FAO để triển khai dự án nông nghiệp bền vững.

IV. Kết luận và khuyến nghị phát triển nông thôn mới huyện Chợ Gạo

Phát triển nông thôn mới tại huyện Chợ Gạo cần hướng tới mô hình bền vững, gắn sản xuất lúa gạo với bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện sở hữu tiềm năng lớn về đất đai, khí hậu và kinh nghiệm sản xuất lúa gạo. Tuy nhiên, thách thức từ biến đổi khí hậu, thiếu vốn đầu tư và hạn chế khoa học công nghệ đang cản trở tiến trình. Để đạt mục tiêu NTM nâng cao vào năm 2030, huyện cần tập trung vào giải pháp đồng bộ: nâng cấp hạ tầng thủy lợi, ứng dụng công nghệ tiên tiến, phát triển kinh tế tuần hoàn. Sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân là yếu tố quyết định thành công. Huyện cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, huy động đủ nguồn lực tài chính và tăng cường hợp tác quốc tế.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển NTM nâng cao gắn với sản xuất lúa gạo. Kết quả phân tích chỉ ra huyện Chợ Gạo có đủ điều kiện để phát triển thành vùng sản xuất lúa gạo chất lượng cao. Đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp chính: khoa học công nghệ, tài chính, môi trường, xã hội và quản trị. Những đóng góp quan trọng bao gồm xác định giống lúa chịu mặn phù hợp, đề xuất mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất lúa gạo. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các huyện khác trong tỉnh Tiền Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

4.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất lúa gạo. Cần nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo năng suất lúa theo kịch bản biến đổi khí hậu. Đề xuất giải pháp tài chính bền vững cho phát triển NTM, bao gồm cơ chế chia sẻ rủi ro thiên tai. Nghiên cứu ứng dụng blockchain trong truy xuất nguồn gốc gạo huyện Chợ Gạo. Cần đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các giải pháp đề xuất thông qua khảo sát sau triển khai. Ưu tiên hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Luan van thac si nong thong moi huyen cho gao

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm 1. Nông thôn Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì “Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính năm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp”. Giáo trình Phát triển nông thôn (tr 11, 2005) của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nêu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân.

Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Theo Hoàng Chí Bảo (2018).“Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”. Với việc hình thành tự nhiên, không có sự can thiệp của chính quyền: Làng mang nét đặc trưng riêng vốn có của mình; trải qua quá trình dựng nước và giữ nước của các triều đại, tên gọi làng cũng khác nhau: “làng”, “thôn”, “làng xóm”. Trong một khu vực ranh giới tự nhiên, hành chính, làng xóm được hình thành.

Mỗi làng xóm đều có nét riêng về tập quán văn hóa, phong tục và là đơn vị tự trị về chính trị. Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của CP về CS tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thi các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Đặc điểm của các vùng nông thôn nước ta gắn liền với loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế - xã hội”. Tựu trung lại, về mặt địa lý, nông thôn là một khu vực rộng lớn tạo thành các ranh giới bao quanh thành thị.

Về kinh tế, nông thôn là môi trường hoạt động của đa số các ngành nghề nông - lâm - ngư nghiệp và một số ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Về tổ chức xã hội, cơ cấu dân cư, dân số ở nông thôn chủ yếu là nông dân với mật độ thấp; ngoài ra, một bộ phận dân cư sống ở nông thôn nhưng làm việc ở thành thị và ngược lại. Về văn hóa, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn các di sản 9 văn hóa truyền thống, địa danh lịch sử. Có sự khác nhau về trình độ, dân trí và khả năng áp dụng công nghệ thông tin giữa dân cư nông thôn và thành thị.

Nông thôn mới NTM là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật, có bản lĩnh chính trị vững vàng đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức sản xuất kinh tế hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM xác định 11 nội dung: Quy hoạch xây dựng NTM; phát triển hạ tầng KT - XH; chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; giảm nghèo và an sinh xã hội; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; phát triển giáo dục, đào tạo ở nông thôn; phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; cấp nước sạch và VSMT nông thôn; nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị, xã hội trên địa bàn; giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.

Tựu trung lại, NTM là nông thôn trong đó, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng đƣợc nâng cao, cách biệt giữa nông thôn với thành thị đƣợc giảm dần; có làng, xã hiện đại, cơ sở hạ tầng đồng bộ, quy hoạch khoa học tạo điều kiện tốt cho ngƣời dân, hài hòa giữa nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và đô thị; sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững, hợp lý; người dân làm chủ NTM, được bồi dưỡng, đào tạo và tiếp cận đƣợc khoa học kỹ thuật tiên tiến; môi trường sinh thái được bảo vệ, cảnh quan sạch đẹp, các hủ tục lạc hậu bị bãi bỏ, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; hệ thống chính trị ngày càng nâng cao, an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững 10 1. Xây dựng nông thôn mới Về bản chất, xây dựng NTM là một hoạt động phát triển nông thôn có tính chiến lược, đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển. Việc xây dựng NTM là quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển KT - XH Việt Nam từ hướng cung sang hướng cầu vào nhu cầu thị trường và xã hội. Phát triển nông thôn mới nâng cao Công văn số 521/VPCP-NN ngày 15/01/2018 của Văn phòng CP về nội dung trọng tâm xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao, điều kiện, tiêu chí xét, công nhận xã NTM kiểu mẫu và Công văn số 1345/BNN-VPĐP ngày 08/02/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch xét, công nhận xã đạt chuẩn NTM nâng cao cho thấy mục đích xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao nhằm đảm bảo xây dựng NTM là quá trình thường xuyên, liên tục, hướng tới mục tiêu phát triển nông thôn bền vững.

Về lộ trình xây dựng NTM nâng cao, các xã được công nhận đạt chuẩn NTM nếu đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 - 2020 của Thủ tướng CP, tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phấn đấu đạt chuẩn NTM nâng cao giai đoạn 2018 - 2020 nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Như vậy, phát triển NTM nâng cao chính là bước phát triển mới đối với các xã đã đạt chuẩn NTM qua việc tiếp tục xây dựng và đáp ứng các chỉ tiêu trên tinh thần chỉ đạo của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và hướng dẫn thực hiện của UBND cấp tỉnh. Lý thuyết về phát triển nông thôn mới 1. Mốt số lý thuyết về phát triển nông thôn trên thế giới Ở giai đoạn đầu, nhận thức về phát triển vùng nông thôn còn nhiều hạn chế với giải pháp đưa ra chủ yếu xoay quanh các vấn đề liên quan đến đô thị hóa, công nghiệp hóa kết hợp với hiện đại hóa nông nghiệp.

Ngày nay, kinh nghiệm cho thấy, phát triển NTM còn cần phải tập trung vào các vấn đề như: cải thiện chất lượng cuộc sống, sinh kế, môi trường một cách bền vững, phát triển cộng đồng và bình đẳng giới. Thập niên 1950 - 1960 Ngành nông nghiệp được coi là lạc hậu, còn công nghiệp được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hoá được xem là yếu tố cơ bản trong quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ số GDP Điển hình là mô hình “Tăng trưởng 05 giai đoạn của Rostow và mô hình ngành kép” của Lewis. Theo Rostow, nông thôn cần chuyển đổi từ “tù đọng” thành “nơi cung cấp thực phẩm”, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất nông nghiệp.

Còn Lewis cho rằng “nông thôn là nơi để cung cấp lao động thặng dư, giảm lao động thặng dư đồng nghĩa với thương mại hóa nông nghiệp”. Hai mô hình trên nêu giả thuyết về ranh giới giữa thành thị và nông thôn, trong đó thành thị là hiện đại và ngược lại khu vực nông thôn bị cho là kém phát triển. Hạn chế của hai lý thuyết nêu trên chỉ nêu sơ lược về bản chất mà không công nhận tầm quan trọng của việc đổi mới nông thôn và chưa chỉ ra được đích đến cuối cùng của phát triển, nhất là khi đặt trong bối cảnh của các nước đang phát triển hiện nay. Lý thuyết về phát triển nông thôn trong thời gian này được chia thành hai hướng chính: thứ nhất tập trung nâng cao năng suất nông nghiệp, thứ hai là việc nâng cao khả năng điều hành của hệ thống chính trị và nền kinh tế địa phương.

Thập niên 1970 Trong thập niên 1970, giải quyết đói nghèo và bất bình đẳng được xem là vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế bên cạnh các chỉ số tăng trưởng kinh tế. Các tác động tiêu cực từ sự can thiệp của các nước phát triển vào các nước đang phát triển, đồng thời thúc đẩy sự tự chủ của các nước đang phát triển. Cách tiếp cận dựa trên tăng trưởng không còn hiệu quả trong việc xóa đói giảm nghèo do tập trung trực tiếp vào việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân. “Thập niên này cũng chứng kiến sự ra đời của các lý thuyết phụ thuộc quốc tế và đã nhận được sự hưởng ứng từ các nước đang phát triển.

Việc thống trị của các nước phát triển về thể chế chính trị, kinh tế làm cản trở sự phát triển tự chủ và độc lập của các nước kém phát triển. Các nước phát triển áp dụng chu trình khai thác xuất khẩu hàng hóa sơ cấp từ các nước đang phát triển sang các ngành công nghiệp chế tạo ở các nước phát triển rồi được bán lại tại các nước nghèo, được coi là có hại với các sản phẩm có giá trị gia 12 tăng sẽ có giá cao hơn. Giải pháp là thúc đẩy công nghiệp hóa thông qua thay thế nhập khẩu ở các nước đang phát triển” (Ferraro, 2008; Goulet, 2003). Trong lý thuyết phụ thuộc quốc tế, khái niệm phát triển nông thôn cũng phụ thuộc vào các lực lượng ngoại sinh như công nghiệp hóa - hiện đại hóa công nghệ và cung cấp các cơ sở hạ tầng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ