CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Xâm nhập mặn và hạn hán Xâm nhập mặn Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ muối bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Hiện tượng này diễn ra phổ biến tại các cửa sông tiếp giáp với biển. Vào mùa khô, lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, nước biển lấn sâu vào sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn, độ mặn sẽ giảm dần theo hướng vào đất liền (hình 1.
Khi nước biển xâm nhập vào đất liền mang theo các muối hòa tan và bị kết cấu đất giữ lại, tích tụ và gây đất nhiễm mặn. Các muối hòa tan thường chứa các ion là Na+, K+, Ca2+, Mg2+, Cl-, SO42- và HCO3- nhưng phần lớn là ion Na+ và Cl- [1]. Mặc dù các loại ion có vai trò quan trọng trong cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nhưng ion Na+ không tham gia vào quá trình sinh trưởng và phát triển của phần lớn các loại thực vật [2]. Lượng lớn ion Na+ trong đất nhiễm mặn làm phân tán đất sét và các chất hữu cơ có sẵn trong đất dẫn đến đất có cấu trúc kém, độ xốp, khả năng vận chuyển nước và thông khí giảm nên đất dễ bị xói mòn, giảm sự nảy mầm của hạt và sự phát triển của rễ [3].
Hơn nữa, tích trữ lượng dư ion Na+ quanh rễ làm cây trồng không hấp thu được nước và chất dinh dưỡng do các ion Na+ ức chế sự phát triển của rễ, can thiệp vào quá trình vận chuyển trong màng sinh chất ở rễ [4]. Do đó, sự dư thừa lượng lớn ion Na+ được xem là nguyên nhân chính dẫn đến đất và nước nhiễm mặn. Hiện tượng xâm nhập mặn ở vùng cửa sông [5] 3 Độ mặn của nước và đất nhiễm mặn được thể hiện thông qua độ dẫn điện (Electrical Conductivity – EC). Độ dẫn điện là một chỉ số để đo lượng muối hòa tan có trong nước hoặc đất nhiễm mặn và đơn vị được quốc tế sử dụng là DeciSiemens trên mét (dS/m) [6].
Ở Việt Nam, đơn vị thường được sử dụng là ‰ và g/L với 1 dS/m tương đương với 0,64 ‰ hoặc 0,64 g/L. Dựa vào nồng độ muối hòa tan và độ dẫn điện, nước và đất nhiễm mặn được phân loại như Bảng 1. Phân loại nước nhiễm mặn [7] Phân loại nước nhiễm mặn Nồng độ muối hòa tan (g/L) Ngọt <2 Hơi mặn 2-4 Rất mặn >4 Bảng 1. Phân loại đất nhiễm mặn [8] Phân loại đất nhiễm mặn Độ dẫn điện của đất (dS/m) Không mặn 0-2 Mặn ít 2-4 Mặn 4-8 Rất mặn >8 Xâm nhập mặn gây ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước và đất nông nghiệp.
Khi xâm nhập mặn xảy ra, không có nước ngọt để tưới tiêu các loại cây ăn quả, hoa màu và lương thực dẫn đến việc sản xuất nông nghiệp bị trì trệ. Sử dụng nước nhiễm mặn để tưới cây trồng có thể làm cây trồng rụng lá, hoa, trái hàng loạt và thậm chí dẫn đến chết cây trồng. Xâm nhập mặn vào đất liền làm đất nhiễm mặn, thay đổi cấu trúc đất và hàm lượng nước, các chất dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của thực vật [9], vi sinh vật [10], [11] và các chu trình sinh địa hóa [12]. 4 Hạn hán Hạn hán là hiện tượng thời tiết cực đoan, xảy ra khi một khu vực trải qua một khoảng thời gian kéo dài có lượng mưa ít hơn nhiều so với mức bình thường.
Những yếu tố khí tượng đi kèm thường là nhiệt độ cao, gió mạnh và độ ẩm không khí thấp [13]. Hạn hán thường gây ảnh hưởng trên diện tích rộng dẫn đến thiếu nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, kinh tế và xã hội. Hạn hán được phân làm 4 loại: Hạn khí tượng, hạn thủy văn, hạn nông nghiệp và hạn kinh tế - xã hội. Hạn nông nghiệp xảy ra khi đất có độ ẩm thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu duy trì sự phát triển của cây trồng, làm giảm năng suất hoặc gây chết.
Đặc trưng của hạn nông nghiệp được biểu thị: đối với cây trồng là sự chuyển đổi về hình dạng, màu sắc của cây và lá như héo, khô, chết; đối với đất canh tác là độ ẩm của đất. Dựa vào hai tiêu chí dung tích hồ chứa và mưa, hạn hán được phân làm 4 cấp độ theo TCVN 8643:2020 và được tóm tắt như bảng 1. Trong đó, dung tích hồ là thể tích nước trong hồ điều tiết – hồ dùng để trữ lượng nước thừa trong mùa lũ để bổ sung cho mùa khô. Các tiêu chí dung tích hồ chứa và mưa được xác định trong mùa khô và khi thỏa mãn đồng thời thì cấp độ hạn được xác định.
Trường hợp các tiêu chí không đồng thời thỏa mãn thì cấp độ hạn được đánh giá dựa trên dung tích hồ chứa. Phân loại cấp độ hạn hán Tiêu chí đánh Cấp độ hạn hán giá hạn hán Cấp độ 1 Cấp độ 2 Cấp độ 3 Cấp độ 4 Dung tích hồ Thiếu hụt so Thiếu hụt so Thiếu hụt so Thiếu hụt so chứa với trung bình với trung bình với trung bình với trung bình nhiều năm từ nhiều năm trên nhiều năm trên nhiều năm trên 20-50% 50-70% 50-70% 50-70% Mưa 1. Lượng mưa Lượng mưa Lượng mưa Lượng mưa Lượng mưa tháng thiếu hụt tháng thiếu hụt tháng thiếu hụt tháng thiếu hụt so với trung so với trung so với trung so với trung bình nhiều năm bình nhiều năm bình nhiều năm bình nhiều năm 5 trên 50%. Thời gian 1-2 tháng (liên Trên 2-3 tháng 3-6 tháng (liên Trên 6 tháng kéo dài tiếp) (liên tiếp) tiếp) (liên tiếp) Hạn hán gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất nông nghiệp [14].
Hạn hán làm giảm mực nước trong các sông và hồ dẫn đến thiếu nước để tưới tiêu cây trồng [15]. Ở vùng hạn hán, do lượng mưa ít hoặc không có mưa dẫn đến độ ẩm trong đất thấp, chỉ một lượng nước nhỏ được thực vật giữ lại trong thân do tốc độ thoát hơi nước qua lá nhanh hơn tốc độ lấy nước từ rễ của thực vật. Sự thiếu hụt nước trong đất và không khí dẫn đến lá vàng, khô héo, cháy lá [16]. Để thích ứng với độ ẩm trong đất, thực vật phải thay đổi sự phát triển và cấu trúc của rễ, đồng thời đóng khí khổng.
Những phản ứng này dẫn đến thực vật ra hoa sớm hoặc tăng trưởng còi cọc và thường làm giảm năng suất cây trồng [17]. Bên cạnh đó, hạn hán còn làm gia tăng mức độ xâm nhập mặn. Tác động xâm nhập mặn và hạn hán đến đồng bằng sông Cửu Long Trong mùa khô 2019–2020, đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) xảy ra một đợt hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng hơn những năm trước đây (hình 1. Nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền tới 110 km, sâu hơn trung bình hằng năm khoảng 10 km.
Cụ thể, xâm nhập mặn vào sâu đất liền đến 71 km trên sông Hàm Luông vào tháng 2 năm 2019, vượt kỷ lục cao nhất là 11 km vào năm 2016. Trong thảm họa 2019–2020, xâm nhập mặn xảy ra từ tháng 11 năm 2019, sớm hơn 2,5 - 3,5 tháng so với mức trung bình hàng năm và kéo dài hơn 30 ngày. Xâm nhập mặn và hạn hán gây ra nhiều thiệt hại: Hàng năm, khoảng 1,8 triệu ha, tương đương khoảng 45% diện tích đất đồng bằng có độ mặn trên 4 g/l [18] gây ảnh hưởng đến năng suất sản xuất gạo vì cây lúa không phát triển tốt ở độ mặn trên 4 g/l [19]. Hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra nghiêm trọng vào mùa khô năm 2015-2016 đã gây mất mùa trên diện rộng, ảnh hưởng đến 9 tỉnh ven biển và 13 tỉnh đều bị ảnh hưởng do thiếu nước.
Tổng thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp ước tính khoảng 300 triệu USD, với 250.000 ha lúa bị hư hại và hơn một triệu dân thiếu nước uống sạch [20]. Năm 2019, sản lượng lúa thấp hơn mức trung bình 0,6 triệu tấn do hạn hán và 6 thời tiết nắng nóng. Năm 2020, Sóc Trăng và Trà Vinh đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp do hạn hán và nhiễm mặn ảnh hưởng đến hơn 100.000 ha sản xuất lúa gạo khi nước mặn xâm nhập khoảng 60–70 km vào đất liền [21]. Hơn nữa, hạn hán và xâm nhập mặn còn gây thiệt hại 30.000 ha lúa ở Cà Mau, khoảng 20.000 ha cây ăn quả và 6.500 ha rau màu ở Bến Tre.
Xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long [21] Biện pháp hạn chế xâm nhập mặn và hạn hán Phương pháp phổ biến được sử dụng để giảm thiểu xâm nhập mặn và hạn hán là nạp nước nhân tạo (artificial recharge) bằng cách đưa nước ngọt vào tầng chứa nước ngầm thông qua việc sử dụng giếng hoặc ao nhân tạo [22]. Các nguồn nước ngọt được sử dụng thường là nước mưa, sông hồ, nước lợ hoặc nước mặn đã khử muối và nước thải đã qua xử lý [23, 24]. Mục đích của việc bơm nước ngọt vào giếng là tạo ra rào cản thủy lực và ngăn nước mặn di chuyển vào đất liền [25]. Vào mùa khô, nước được dự trữ trong giếng có thể được sử dụng để cung cấp nước cho việc tưới tiêu các loại cây nông nghiệp.
Các kỹ thuật khác có thể được sử dụng như trồng các loại cây có khả năng chịu mặn và hạn phù hợp với đất nhiễm mặn và hạn hán [26-28], sử dụng vi sinh vật [29, 30]… Trong đó, phương pháp cải tạo đất được sử dụng khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao [31]. Có hai loại cải tạo đất: vô cơ và hữu cơ. Chất cải tạo hữu cơ có khả năng cải thiện cấu trúc của đất, tăng khả năng giữ nước và tăng cường 7 hoạt động của vi sinh vật do đó muối dần dần được thấm qua cấu trúc xốp của đất. Trong khi đó, chất cải tạo đất vô cơ sẽ thay thế ion Na+ có trong đất bằng cách hấp phụ từ đó làm giảm độ mặn.
Việc này làm tăng độ bão hòa bazơ, khả năng tích trữ nước của đất và tác động tích cực đến sự sinh trưởng của thực vật [2]. Các loại chất cải tạo đất thường được sử dụng là than sinh học, phân trùn quế, thạch cao… Một chất cải tạo đất được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây là zeolite do có khả năng trao đổi cation cao, hấp phụ và giữ nước tốt nên được sử dụng để làm giảm độ mặn của nước tưới tiêu cây trồng, cải tạo đất nhiễm mặn và khô cằn do hạn hán [32- 36]. Tổng quan về zeolite 1. Giới thiệu chung về zeolite Zeolite là tên gọi chung chỉ một họ vật liệu khoáng vô cơ có cùng thành phần là aluminosilicat [37].