Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Trong cơ cấu kinh tế - xã hội, sản xuất nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó ngành chăn nuôi có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng tổng đàn lẫn quy mô chuồng trại. Tuy nhiên, tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ tại các nông hộ, thiếu sự quy hoạch đồng bộ, đặc biệt là sự tồn tại của các chuồng nuôi xen kẽ trong các khu vực dân cư đông đúc, đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Các tác nhân ô nhiễm phát sinh từ hoạt động chăn nuôi bao gồm chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn và xác gia súc tiêu hủy không đúng quy trình kỹ thuật. Kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi gia súc cho thấy tổng số vi khuẩn trong không khí chuồng nuôi cao gấp 30 đến 40 lần so với môi trường không khí bên ngoài. Quá trình lưu trữ và phân hủy chất thải chăn nuôi tạo ra nhiều khí độc hại như SO2, NH3, CO2, H2S, CH4, NO3, NO2, indol, skatol, mecaptan, phenol cùng nhiều vi sinh vật gây bệnh (Enterobacteriaceae, Escherichia coli, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella) và ký sinh trùng có khả năng lây nhiễm sang người.

Thái Bình là tỉnh đồng bằng ven biển có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Bên cạnh những đóng góp về mặt kinh tế, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tại địa phương đang gây ra sức ép lớn lên môi trường tự nhiên và sức khỏe cộng đồng. Tại huyện Kiến Xương, hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ mang tính tận dụng vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu; quy mô sản xuất thấp gây khó khăn cho công tác kiểm soát dịch bệnh; hệ thống xử lý nước thải tại các cơ sở chăn nuôi đã xuống cấp; nhiều công trình khí sinh học (hầm biogas) được xây dựng chưa đúng quy cách kỹ thuật và kiến thức vệ sinh chuồng trại của người chăn nuôi còn hạn chế. Nhằm làm rõ hiện trạng phát sinh chất thải và mức độ ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi lợn tại địa phương, đề tài "Điều tra lượng chất thải và mức độ gây ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình" đã được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng các loại chất thải phát sinh và mức độ gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương; từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và công nghệ xử lý phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hỗ trợ tận thu chất thải phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 5 nội dung chính:

  1. Điều tra về số lượng và quy mô của các trang trại nuôi lợn trên địa bàn huyện Kiến Xương.
  2. Điều tra về khối lượng các loại chất thải phát sinh từ các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện.
  3. Phân loại các nguồn chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn.
  4. Điều tra mức độ gây ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở chăn nuôi lợn đại diện.
  5. Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý hiệu quả đối với các loại chất thải phát sinh từ các cơ sở chăn nuôi lợn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Khối lượng và thành phần các loại chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn (chất thải rắn, nước thải, khí thải, chất thải nguy hại) và các vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan tại một số cơ sở chăn nuôi.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các cơ sở, hộ chăn nuôi và trang trại nuôi lợn trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; dữ liệu điều tra thực địa và phân tích hiện trạng được thực hiện trong giai đoạn đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý thuyết dựa trên các nghiên cứu chuyên ngành về quản lý chất thải chăn nuôi gia súc. Theo đánh giá tổng quan, chăn nuôi đóng góp khoảng 18% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (tính theo CO2 tương đương), sinh ra 65% tổng lượng NO, 37% tổng lượng CH4 và 64% tổng lượng NH3 do các hoạt động của con người tạo nên. Về mặt sinh học và hóa lý, khối lượng phân và nước tiểu của lợn chiếm từ 1,5% đến 6% khối lượng cơ thể mỗi ngày. Theo các nghiên cứu công bố của Nguyễn Thị Hoa Lý (1994) và Trương Thanh Cảnh (1997, 1998, 2006), các chỉ số ô nhiễm của chất thải gia súc cao vượt trội so với chất thải của người: BOD5 gấp 5 lần, Nitơ tổng số gấp 7 lần, Tổng chất rắn (TS) gấp 10 lần. Nước thải chăn nuôi lợn là hỗn hợp đậm đặc của nước tiểu, phân hòa tan và nước rửa chuồng, tắm gia súc với hệ số pha loãng dao động từ 20 đến 49 lít nước cho mỗi kilôgam chất thải bài tiết. Khóa luận cũng dẫn chứng các nghiên cứu vi sinh học của A. Rheiheinmer (1985) và Viện Vệ sinh - Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh (2001) về sự tồn lưu dai dẳng của vi khuẩn, virus và ký sinh trùng (Bacillus anthracis tồn tại đến 10 năm, Bacillus tetani tồn tại 3 - 4 năm, Salmonella tồn tại 6 - 7 tháng, trứng giun sán tồn tại 5 - 6 tháng).

Khung pháp lý và chính sách phát triển chăn nuôi áp dụng trong đề tài bao gồm:

  • Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XIX về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững gắn với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
  • Quyết định số 4064/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình phê duyệt "Đề án Tái cơ cấu giống gia súc trong chăn nuôi nông hộ tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016 - 2020".
  • Quyết định số 3312/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình phê duyệt "Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030".
  • Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), tiêu chuẩn thực hành chăn nuôi tốt VietGAHP và các quy chuẩn dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và An toàn thực phẩm (LIFSAP).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai gồm ba hợp phần:

  • Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê thứ cấp, báo cáo chuyên ngành từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kiến Xương, Chi cục Thống kê huyện Kiến Xương, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình và các công trình nghiên cứu khoa học liên quan.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra khảo sát thực địa thông qua phiếu phỏng vấn và bảng hỏi đối với các chủ cơ sở, nông hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện nhằm thu thập số liệu về quy mô đàn, cơ cấu giống, chế độ dinh dưỡng, phương thức vệ sinh chuồng trại và hiện trạng vận hành các công trình xử lý chất thải.
  • Phương pháp khảo sát và lấy mẫu hiện trường: Khảo sát vị trí địa lý, thiết lập mạng lưới các điểm đo đạc và tiến hành lấy mẫu môi trường bao gồm: lấy và phân tích mẫu nước thải (tại các vị trí theo quy chuẩn), lấy và phân tích mẫu không khí xung quanh khu vực chuồng trại, lấy và phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường đất tại các cơ sở chăn nuôi đại diện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về hoạt động chăn nuôi lợn

Chương này hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam, tỉnh Thái Bình và cơ sở lý luận về các dòng chất thải phát sinh.

  • Tình hình chăn nuôi lợn tại Việt Nam: Tổng đàn lợn cả nước đạt khoảng 28 triệu con. Ngành chăn nuôi chuyển dịch dần từ mô hình phân tán, tận dụng phế phụ phẩm sang chăn nuôi trang trại thâm canh; chuyển dịch giống từ các giống lợn nội truyền thống sang sử dụng nái ngoại hoặc nái lai phối giống thụ tinh nhân tạo với đực ngoại cao sản (Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain).
  • Tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Thái Bình: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ngành nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2011 - 2016 đạt 3,08%/năm. Năm 2016, tổng giá trị sản xuất chăn nuôi toàn tỉnh đạt 8.680 tỷ đồng (tăng 4,33% so với năm 2015), trong đó chăn nuôi lợn chiếm 80% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng (đạt 165.649 tấn) và chiếm 66,8% giá trị ngành. Đàn lợn nái có 195.077 con (chiếm 18,6% tổng đàn). Thái Bình dẫn đầu cả nước về xuất khẩu lợn sữa với sản lượng 5.713 tấn (khoảng 700 - 800 nghìn con/năm, kim ngạch 4 triệu USD/năm sang Hồng Kông, Trung Quốc). Toàn tỉnh có 587 trang trại chăn nuôi lợn (tập trung chủ yếu ở quy mô 100 - 199 con, chiếm 48,2%).
  • Đặc tính các dòng chất thải chăn nuôi: Tác giả lượng hóa định mức phát thải cho 1.000 kg lợn trong một ngày gồm: 84 kg phân, 39 kg nước tiểu, 11 kg TS, 3,1 kg BOD5, 0,29 kg NH4-N, 0,027 kg SS. Nước thải chăn nuôi có mức độ ô nhiễm rất cao với BOD5 từ 3.500 - 9.800 mg/l, COD từ 5.000 - 12.000 mg/l, chất rắn lơ lửng (SS) từ 680 - 1.200 mg/l, Nitơ tổng từ 220 - 460 mg/l, Phốt pho tổng từ 36 - 72 mg/l. Phân lợn có độ ẩm cao, Nitơ tổng số đạt từ 7,99 - 9,32 g/kg vật chất khô, chứa nhiều vi sinh vật và hơn 2.000 trứng giun sán trong 1 kg phân. Khí thải chuồng trại sinh ra trên 170 loại khí gây mùi và khí độc hại, tiêu biểu là NH3 và H2S (ở mức 10 ppm gây kích ứng niêm mạc, trên 600 ppm có thể dẫn đến tử vong).
Thông số thành phần phân lợn (70 - 100 kg) Giá trị ghi nhận
Vật chất khô 213 – 342 g/kg
Nitơ tổng số (N tổng) 7,99 – 9,32 g/kg
NH4 – N 0,66 – 0,76 g/kg
Chất xơ 151 – 261 g/kg
Tro 32,5 – 93,3 g/kg
Các axit mạch ngắn 3,83 – 4,47 g/kg
pH 6,47 – 6,95
Thông số hóa học nước tiểu lợn (70 - 100 kg) Giá trị ghi nhận
pH 6,77 – 8,19
Vật chất khô 30,9 – 35,9 g/kg
Urê 123 – 196 g/kg
Nitơ tổng số (N tổng) 4,9 – 6,63 g/kg
NH4 0,13 – 0,4 g/kg
Tro 8,5 – 16,3 g/kg
Nước Chiếm ~99% khối lượng

Chương 2: Hiện trạng chất thải phát sinh trong chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương

Chương này tập trung trình bày điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội, quy trình kỹ thuật chăn nuôi và tính toán định lượng các nguồn phát thải ô nhiễm tại địa bàn nghiên cứu.

  • Điều kiện địa bàn huyện Kiến Xương: Huyện gồm 36 xã và 1 thị trấn (Thanh Nê), diện tích thuộc lưu vực hạ lưu sông Hồng, sông Trà Lý và sông Kiến Giang; hệ thống giao thông gồm Quốc lộ 37B (dài 17,7 km), Tỉnh lộ 39B (dài 13,7 km), Tỉnh lộ 222 (dài 22 km). Dân số năm 2016 là 226.978 người, mật độ dân số 1.123 người/km2. Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa ven biển với nhiệt độ trung bình năm 23,8°C, lượng mưa bình quân trên 2.000 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình 86%.
  • Thực trạng chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương: Năm 2016, toàn huyện có tổng đàn lợn là 112.738 con (chiếm 10,75% tổng đàn lợn của tỉnh Thái Bình). Huyện có 6 trang trại quy mô lớn đặt tại các xã Bình Định, An Bồi, Lê Lợi, Quang Hưng, An Bình và 25 trang trại/gia trại quy mô vừa; phần còn lại là chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tiêu thụ tại chỗ, giá trị hàng hóa chưa cao.
  • Quy trình chăn nuôi và cân bằng phát thải: Tác giả xây dựng sơ đồ quy trình chăn nuôi lợn nái (từ lợn hậu bị, tiền phối giống, chửa, đẻ/nuôi con đến lợn con) với nhu cầu dinh dưỡng từ 2.800 - 3.000 Kcal/kg năng lượng và 12 - 18% protein tiêu hóa. Sơ đồ quy trình chăn nuôi lợn thịt gồm giai đoạn vệ sinh chuồng bằng nước vôi 20% và formol, giai đoạn lợn từ 20 - 60 kg (thức ăn 3.100 - 3.250 Kcal/kg) và giai đoạn lợn từ 61 - 105 kg xuất chuồng (thức ăn 3.000 - 3.100 Kcal/kg). Mỗi công đoạn đều xác định rõ nguồn phát sinh nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn và hóa chất khử trùng.
  • Hiện trạng phát sinh các nguồn chất thải tại huyện:
    • Chất thải rắn (phân): Áp dụng hệ số phát thải theo Vũ Đình Tôn và cộng sự (2010), lượng phân phát sinh hàng ngày tính toán cho toàn bộ 112.738 con lợn của huyện Kiến Xương đạt 79.397,03 kg/ngày (tương đương 79,397 tấn/ngày).
    • Nước thải chăn nuôi: Định mức phát sinh trung bình qua điều tra là 15 lít/con/ngày, dẫn đến tổng lượng nước thải chăn nuôi lợn phát sinh trên địa bàn huyện là 1.691.070 lít/ngày, tương đương 1.691,07 m3/ngày. Nước thải chứa hàm lượng hữu cơ cao, gây hiện tượng phú dưỡng hóa các thủy vực tiếp nhận và phát tán dịch bệnh.
    • Khí thải và mùi hôi: Phát sinh từ chuồng nuôi, bể trữ phân và việc sử dụng phân bón chưa hoai mục; tác nhân chính là NH3 và H2S.
    • Chất thải nguy hại: Bao bì thuốc thú y, vỏ chai vắc xin, kim tiêm loại thải phát sinh với khối lượng nhỏ nhưng có mức độ rủi ro lây lan mầm bệnh và độc hại hóa học cao.
    • Tiếng ồn: Xuất hiện cục bộ vào thời điểm lợn ăn hoặc từ máy nghiền thức ăn, máy bơm nước; cường độ tiếng ồn trong chuồng kín có thể vượt mức 85 dB.
  • Hiện trạng quản lý: Phần lớn chất thải rắn được đưa vào hầm biogas nông hộ hoặc ủ với rơm rạ làm phân bón. Tuy nhiên, công trình xử lý nước thải sau biogas hầu như chưa hoàn chỉnh, nước thải sau hầm ủ thường được xả trực tiếp vào ao cá, mương thủy lợi nội đồng mà không qua bước xử lý bổ sung.

Chương 3: Điều tra mức độ gây ô nhiễm môi trường của một cơ sở chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương

Chương này đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường thông qua chương trình lấy mẫu quan trắc và đề xuất giải pháp kỹ thuật:

  • Điều tra hiện trạng các thành phần môi trường: Báo cáo kết quả phân tích chất lượng nước thải (các chỉ tiêu pH, BOD5, COD, SS, Nitơ tổng, Phốt pho tổng so với QCVN về nước thải chăn nuôi); đánh giá nồng độ các khí ô nhiễm trong không khí chuồng nuôi và môi trường xung quanh (NH3, H2S so với quy chuẩn không khí); phân tích chất lượng đất tại khu vực chịu ảnh hưởng bởi chất thải chăn nuôi.
  • Đánh giá mức độ ô nhiễm chất thải rắn và chất thải nguy hại: Phân tích nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật, sự thẩm thấu chất hữu cơ vào đất và nước ngầm do bãi chứa lộ thiên; đánh giá quy trình thu gom, lưu giữ bao gói thuốc thú y tại các cơ sở điều tra.
  • Đề xuất biện pháp quản lý và công nghệ giảm thiểu:
    • Quy hoạch chăn nuôi: Di dời các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn ra khỏi khu dân cư, hình thành vùng chăn nuôi tập trung theo quy hoạch nông thôn mới của huyện.
    • Chăn nuôi trên đệm lót sinh học: Áp dụng đệm lót từ trấu, mùn cưa cấy men vi sinh nhằm hấp thụ và phân hủy nước tiểu, phân lợn ngay tại chuồng, giảm triệt để lượng nước rửa chuồng và mùi hôi.
    • Xử lý bằng công nghệ ép tách phân: Sử dụng máy ép cơ học để tách riêng bã phân rắn (thu gom đóng bao làm phân bón vi sinh) và pha lỏng (dẫn vào hầm biogas xử lý kỵ khí), giúp giảm tải trọng ô nhiễm cho công trình biogas và tăng hiệu quả xử lý nước thải.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và tính toán đầy đủ các số liệu định lượng về quy mô chăn nuôi lợn và tải lượng chất thải tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Nhóm phân loại đàn lợn Số lượng thống kê (con) Định mức phân thải (kg/con/ngày) Tổng lượng phân phát sinh (kg/ngày)
Lợn con (cai sữa đến 15 kg) 41.182 0,25 10.295,50
Lợn thịt (15 kg đến xuất chuồng) 41.182 0,94 38.711,08
Lợn nái sinh sản 29.800 0,84 25.032,00
Lợn đực giống 574 1,08 619,92
Tổng cộng toàn huyện 112.738 - 79.397,03

Bên cạnh lượng chất thải rắn lên tới 79,397 tấn/ngày, lượng nước thải chăn nuôi phát sinh từ đàn lợn của toàn huyện được xác định là 1.691,07 m3/ngày (1.691.070 lít/ngày).

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất mang tính kỹ thuật rõ ràng:

  • Tổ chức lại không gian chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại tập trung, tách biệt với các cụm dân cư nông thôn.
  • Ứng dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học VietGAHP kết hợp kỹ thuật đệm lót sinh học nhằm cắt giảm thể tích nước thải phát sinh từ khâu tắm và rửa chuồng.
  • Triển khai giải pháp công nghệ ép tách phân trước khi nạp vào công trình khí sinh học; tận thu chất thải rắn làm nguyên liệu cho sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, hạn chế việc xả thẳng nước thải chưa qua xử lý vào các kênh mương tưới tiêu.

Về mặt đóng góp, đề tài là công trình nghiên cứu khảo sát có hệ thống đầu tiên tại khoa Hóa học - Trường ĐHSP Hà Nội 2 cung cấp số liệu thực chứng về tải lượng phát thải từ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Kiến Xương. Kết quả tính toán và điều tra hiện trường đóng vai trò làm tài liệu khoa học hỗ trợ cho các cơ quan chuyên trách như Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kiến Xương trong công tác quản lý chất thải và thẩm định môi trường chuồng trại nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi khảo sát:

  • Việc khảo sát, đo đạc và lấy mẫu phân tích các thông số nước thải, không khí và đất mới chỉ thực hiện được tại một số cơ sở chăn nuôi đại diện, chưa thể bao quát toàn bộ 37 đơn vị hành chính xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
  • Dữ liệu về chất thải nguy hại (vỏ lọ vắc xin, thuốc thú y) và tiếng ồn chủ yếu dựa trên khảo sát định tính và điều tra xã hội học, chưa có số liệu cân đo trọng lượng chi tiết theo thời gian chu kỳ nuôi.
  • Hiệu quả kỹ thuật của các giải pháp đề xuất (công nghệ ép tách phân, đệm lót sinh học) dừng lại ở mức độ kiến nghị áp dụng dựa trên lý thuyết và mô hình tham chiếu, chưa được thử nghiệm thực nghiệm trực tiếp tại các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn huyện trong khuôn khổ đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng phạm vi lấy mẫu quan trắc môi trường theo các mùa trong năm; nghiên cứu thực nghiệm quy trình xử lý nước thải sau biogas bằng các bãi lọc sinh học trồng cây bản địa; đánh giá chi tiết tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của mô hình máy ép tách phân quy mô vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện đầu tư của các trang trại chăn nuôi tại tỉnh Thái Bình.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Hóa học, Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông nghiệp và Chăn nuôi - Thú y khi thực hiện các đồ án, đề tài nghiên cứu về đánh giá tải lượng ô nhiễm chăn nuôi nông thôn.
  • Cán bộ quản lý môi trường tại các phòng ban chuyên môn cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tham khảo phương pháp tính toán tải lượng chất thải rắn, lỏng từ đàn lợn và đánh giá các nguy cơ ô nhiễm chuồng trại.
  • Các chủ trang trại, hộ gia đình chăn nuôi quy mô vừa và lớn có nhu cầu tìm hiểu về các công nghệ giảm thiểu chất thải, đặc biệt là quy trình ứng dụng đệm lót sinh học và kỹ thuật tách ép phân phục vụ sản xuất nông nghiệp tuần hoàn.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất của tài liệu là Chương 2 với phương pháp luận tính toán phát thải chi tiết theo từng nhóm lợn và sơ đồ chuỗi công nghệ cân bằng vật chất dinh dưỡng/phát thải trong chăn nuôi lợn nái và lợn thịt.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn (phân) phát sinh mỗi ngày từ đàn lợn trên toàn huyện Kiến Xương là bao nhiêu và được tính toán dựa trên cơ sở nào? Tổng khối lượng phân lợn phát sinh mỗi ngày trên địa bàn huyện Kiến Xương là 79.397,03 kg/ngày (tương đương 79,397 tấn/ngày). Con số này được tính toán dựa trên số lượng thống kê từng nhóm lợn của huyện (112.738 con) nhân với định mức bài tiết phân hàng ngày theo nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và cs (2010): lợn con thải 0,25 kg/con/ngày; lợn thịt thải 0,94 kg/con/ngày; lợn nái thải 0,84 kg/con/ngày; lợn đực giống thải 1,08 kg/con/ngày.

Thể tích nước thải chăn nuôi lợn phát sinh mỗi ngày tại huyện Kiến Xương là bao nhiêu? Qua kết quả điều tra thực tế tại các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn, định mức nước thải phát sinh trung bình (bao gồm nước tiểu, nước tắm lợn và nước vệ sinh chuồng trại) là 15 lít/con/ngày. Với tổng đàn lợn 112.738 con, tổng lượng nước thải phát sinh toàn huyện mỗi ngày được tính toán là 1.691.070 lít/ngày, tương đương 1.691,07 m3/ngày.

Cơ cấu đàn lợn tại huyện Kiến Xương được phân loại cụ thể như thế nào trong văn bản? Theo bảng số liệu thống kê trong khóa luận, tổng đàn lợn của huyện Kiến Xương là 112.738 con (chiếm 10,75% tổng đàn lợn của tỉnh Thái Bình). Cơ cấu đàn bao gồm: 41.182 con lợn con, 41.182 con lợn thịt, 29.800 con lợn nái sinh sản và 574 con lợn đực giống. Toàn huyện có 6 trang trại quy mô lớn và 25 trang trại/gia trại quy mô vừa.

Các giải pháp kỹ thuật nào được tác giả đề xuất để giảm thiểu ô nhiễm môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương? Tác giả đề xuất 3 giải pháp kỹ thuật và tổ chức cụ thể gồm: (1) Quy hoạch lại không gian chăn nuôi, di dời chuồng trại khỏi khu dân cư tập trung; (2) Áp dụng phương thức chăn nuôi trên đệm lót sinh học bằng mùn cưa, trấu cấy vi sinh vật để triệt tiêu nước thải rửa chuồng và mùi hôi; (3) Sử dụng công nghệ máy ép cơ học để tách riêng phân rắn và nước thải, trong đó phân rắn được ủ đóng bao làm phân hữu cơ, phần nước thải được xử lý kỵ khí qua công trình biogas.

Mức độ ô nhiễm của các chỉ tiêu hữu cơ chính (BOD5, COD) trong nước thải chăn nuôi lợn theo số liệu tổng quan trong khóa luận là bao nhiêu? Theo tài liệu tổng quan được tác giả trích dẫn, nước thải chăn nuôi lợn có nồng độ chất hữu cơ rất cao: giá trị BOD5 dao động từ 3.500 đến 9.800 mg/l và COD dao động từ 5.000 đến 12.000 mg/l; ngoài ra hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) đạt từ 680 đến 1.200 mg/l và Nitơ tổng số đạt từ 220 đến 460 mg/l.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Ngọc Lệ đã khảo sát và lượng hóa toàn diện thực trạng phát sinh chất thải từ quy mô đàn lợn 112.738 con tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình với tải lượng chất thải rắn đạt 79,397 tấn/ngày và lưu lượng nước thải đạt 1.691,07 m3/ngày. Đề tài đã phân tích rõ mức độ ô nhiễm của các dòng chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải nguy hại, đồng thời chỉ ra những hạn chế của hệ thống xử lý chất thải chuồng trại nông hộ tại địa phương. Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất bao gồm quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, áp dụng đệm lót sinh học và đầu tư công nghệ ép tách phân là cơ sở khoa học thiết thực giúp địa phương kiểm soát ô nhiễm và hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững.