Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu đánh giá sức tải một số yếu tố môi trường c n p khu vực đầm phá tam giang cầu hai tỉnh thừa thiên huế

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế, tập trung vào các yếu tố C, N, P, K.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

157
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về sức tải môi trường

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khu vực nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát

2.2.2. Kỹ thuật thu mẫu, bảo quản mẫu

2.2.3. Kỹ thuật đo đạc, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

2.2.4. Phương pháp tính tải lượng thải

2.2.4.1. Tính toán lượng thải phát sinh
2.2.4.2. Ước tính tải lượng ô nhiễm đưa vào khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

2.2.5. Phương pháp mô hình hóa

2.3. Cơ sở lý thuyết của mô hình Delft - 3D

2.4. Triển khai mô hình Delft 3D mô phỏng chất lượng nước hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và tính toán sức tải môi trường

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Tính toán lượng chất thải đưa vào đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

3.1.1. Tính toán lượng chất thải phát sinh từ các nguồn khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thời điểm năm 2011 và dự báo năm 2020, 2030

3.1.2. Tải lượng thải C, N, P đưa vào vùng đầm phá: năm 2011 và dự báo năm 2020, 2030

3.2. Hiệu chỉnh mô hình

3.2.1. Mô hình thủy động lực

3.2.2. Mô hình chất lượng nước

3.3. Mô phỏng chất lượng nước theo các kịch bản

3.3.1. Các kịch bản mô phỏng

3.3.2. Mô phỏng chất lượng nước đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thời điểm năm 2011 – 2012

3.3.2.1. Nồng độ oxy hòa tan
3.3.2.2. Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5)
3.3.2.3. Nhu cầu oxy hóa học (COD)
3.3.2.4. Nồng độ muối amoni (N-NH4++NH3)
3.3.2.5. Nồng độ muối nitrat (N-NO3-)
3.3.2.6. Nồng độ muối phosphat (P-PO43-)

3.3.3. Kịch bản thấp 2020

3.3.4. Kịch bản cao 2020

3.3.5. Kịch bản thấp 2030

3.3.6. Kịch bản cao 2030

3.3.7. Kịch bản đột xuất 2020

3.3.8. Kịch bản đột xuất 2030

3.3.9. Tính toán sức tải môi trường khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đối với các hợp chất của C, N và P

3.4. Sức chịu tải môi trường trên cơ sở quy chuẩn Việt Nam (QCVN 10-MT:2015/BTNMT và QCVN 08-MT:2015/BTNMT)

3.5. Sức chịu tải tối đa hay kịch bản nguy hiểm. Đề xuất mức sức tải môi trường phù hợp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về sức tải môi trường

Sức tải môi trường (STMT) là một khái niệm quan trọng trong khoa học môi trường, được phát triển từ cuối những năm 1980. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định khả năng chịu tải của các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là các thủy vực như đầm phá, sông, hồ. Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ thống đầm phá lớn nhất ở Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học và các hoạt động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sự gia tăng các nguồn thải từ hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt đã đặt ra thách thức lớn đối với sức tải môi trường của hệ thống này. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng chịu tải của đầm phá đối với các chất ô nhiễm như C, N, P, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý bền vững.

1.1. Khái niệm và phương pháp đánh giá sức tải

Sức tải môi trường được định nghĩa là khả năng tối đa mà một hệ sinh thái có thể chịu đựng các tác động từ bên ngoài mà không bị suy thoái. Để đánh giá sức tải môi trường, các phương pháp mô hình hóa như Delft-3D được sử dụng để mô phỏng sự lan truyền của các chất ô nhiễm trong hệ thống đầm phá. Nghiên cứu này cũng tập trung vào việc xác định các nguồn thải chính, bao gồm nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, từ đó tính toán tải lượng ô nhiễm đưa vào hệ thống.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trên thế giới, các nghiên cứu về sức tải môi trường đã được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản, quản lý nguồn thải và bảo vệ môi trường. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã được thực hiện từ những năm 2000, tập trung vào đánh giá chất lượng nước và đa dạng sinh học. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp mô hình hóa để đánh giá sức tải môi trường vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này đóng góp vào việc hệ thống hóa phương pháp đánh giá sức tải môi trường cho các thủy vực ven biển tại Việt Nam.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng hợp từ các tài liệu đã công bố, kết hợp với điều tra thực địa và mô hình hóa. Các dữ liệu về chất lượng nước, tải lượng ô nhiễm và đặc điểm thủy động lực của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được thu thập và phân tích. Phương pháp mô hình hóa Delft-3D được áp dụng để mô phỏng sự lan truyền của các chất ô nhiễm trong hệ thống đầm phá, từ đó tính toán sức tải môi trường.

2.1. Thu thập và phân tích dữ liệu

Các dữ liệu về chất lượng nước, tải lượng ô nhiễm và đặc điểm thủy động lực của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được thu thập từ các nguồn khác nhau, bao gồm các báo cáo nghiên cứu, dữ liệu thực địa và các dự án liên quan. Các mẫu nước được thu thập và phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định nồng độ các chất ô nhiễm như BOD5, COD, N-NH4+, N-NO3- và P-PO43-.

2.2. Mô hình hóa và tính toán sức tải

Phương pháp mô hình hóa Delft-3D được sử dụng để mô phỏng sự lan truyền của các chất ô nhiễm trong hệ thống đầm phá. Mô hình này cho phép tính toán sức tải môi trường dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và 2030. Các kịch bản bao gồm kịch bản thấp, kịch bản cao và kịch bản đột xuất, từ đó đưa ra các đề xuất quản lý phù hợp.

III. Kết quả và bàn luận

Nghiên cứu đã xác định được các nguồn thải chính đưa vào đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, bao gồm nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Tải lượng ô nhiễm từ các nguồn này được tính toán và dự báo đến năm 2020 và 2030. Kết quả mô hình hóa cho thấy, nếu không có các biện pháp quản lý hiệu quả, sức tải môi trường của hệ thống đầm phá sẽ bị vượt quá, dẫn đến suy thoái chất lượng nước và đa dạng sinh học.

3.1. Tính toán tải lượng ô nhiễm

Tải lượng ô nhiễm từ các nguồn thải sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp được tính toán dựa trên các hệ số phát thải và dữ liệu thực địa. Kết quả cho thấy, tải lượng ô nhiễm đưa vào đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là các chất hữu cơ và dinh dưỡng như BOD5, COD, N-NH4+ và P-PO43-.

3.2. Đề xuất quản lý và bảo vệ môi trường

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các đề xuất quản lý và bảo vệ môi trường được đưa ra, bao gồm việc kiểm soát các nguồn thải, tăng cường giám sát chất lượng nước và áp dụng các biện pháp phục hồi hệ sinh thái. Các kịch bản mô phỏng cũng cho thấy, việc áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả có thể giúp duy trì sức tải môi trường của hệ thống đầm phá trong giới hạn cho phép.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sức tải môi trường 1. Các khái niệm Sức tải môi trường (STMT) là một hướng nghiên cứu của khoa học môi trường, mới được phát triển trong hơn ba thập kỷ gần đây.

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, Nhóm các chuyên gia về khoa học ô nhiễm biển (GESAMP) [3] đã tìm hiểu về khái niệm, cách tiếp cận liên quan đến STMT. Sau này, với việc phát triển của các công cụ mô hình hóa, hướng nghiên cứu này đã được áp dụng tại một số lĩnh vực như trong nuôi trồng thủy sản, du lịch, kiểm soát nguồn thải v. Đặc biệt, trong khoảng 15 năm trở lại đây, dưới sức ép của các quy hoạch phát triển và sự suy thoái của tài nguyên và môi trường, hướng nghiên cứu STMT được phát triển và áp dụng khá rộng rãi. Vấn đề đặt ra là cần làm rõ các khái niệm, hiểu đúng bản chất của STMT và có phương pháp tính toán đúng đắn để có thể áp dụng vào trong thực tiễn quản lý nguồn thải và bảo vệ môi trường.

Ngoài khái niệm về STMT, các khái niệm về khả năng tự làm sạch và cân bằng chất ô nhiễm trong thủy vực cũng có mối liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Khả năng tự làm sạch của thủy vực: Các chất ô nhiễm khi đi vào các thủy vực tự nhiên như sông, hồ và biển sẽ bị biến mất dần dần theo thời gian. Việc loại bỏ các chất ô nhiễm từ các thủy vực mà không có bất kỳ can thiệp nào của con người được gọi là quá trình tự làm sạch, hoặc sự làm sạch tự nhiên [4]. Cơ chế của quá trình tự làm sạch tự nhiên có thể chia làm 3 nhóm: vật lý, hóa học và sinh học [2].

Quá trình vật lý đóng góp vào việc loại bỏ chất ô nhiễm từ thủy vực tự nhiên bao gồm pha loãng/trộn lẫn bằng các dòng chảy, khuyếch tán chất ô nhiễm trong nước và kết tủa/lắng đọng chất ô nhiễm xuống trầm tích đáy. Sự bay hơi của các chất ô nhiễm dễ bay hơi vào bầu khí quyển cũng làm giảm chất ô nhiễm trong nước. Quá trình hóa học liên quan đến việc loại bỏ các chất ô nhiễm khỏi vực nước là sự oxi hóa bởi các chất ô xi hóa như ozon và oxy, sự oxi hóa bởi tia tử ngoại; quá trình khử và sự trung hòa. 4 Luận án tiến sĩ Kĩ thuật Quá trình sinh học bao gồm sự thoái hóa/chuyển đổi các chất ô nhiễm hữu cơ bởi vi khuẩn dưới các điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí, cũng như sự tham gia của các vi khuẩn trong quá trình nitrat hóa và phản nitrat hóa tương ứng.

Quá trình sinh học giữ một vai trò quan trọng trong cơ chế làm sạch nước ở các thủy vực tự nhiên. Việc loại bỏ chất ô nhiễm khỏi thủy vực bằng phương pháp sinh học thường được gọi là “tự làm sạch đúng nghĩa” và sự tự làm sạch tổng số “lý, hóa, sinh” được gọi là “tự làm sạch biểu kiến”. Cân bằng chất ô nhiễm trong thủy vực: Nghiên cứu về cân bằng các chất ô nhiễm cung cấp cơ sở để dự báo động thái ô nhiễm của các vùng nước biển và đại dương theo những giá trị cho trước về phát thải các chất ô nhiễm, xây dựng những khuyến cáo về chế độ phát thải tối ưu và xác định các mức chịu tải cho phép tới hạn hay dung lượng dung hòa của biển với các chất ô nhiễm. Vlađimirov trong cuốn “Bảo vệ Môi trường” [5], về định tính, cân bằng các chất ô nhiễm đối với biển nói chung có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: ∆C = C vào – C ra Ở đây ∆C là gia lượng nồng độ chất ô nhiễm sau thời gian t, C vào là phát thải chất ô nhiễm vào thủy vực (bao gồm phát thải từ bờ, phát thải do sông mang ra, phát thải trực tiếp từ biển như tàu, giàn khoan v.v; lượng chất tới trong quá trình trao đổi nước, lượng chất xâm nhập từ khí quyển vào nước) và C ra là lượng chất ô nhiễm ra khỏi thủy vực trong thời gian t (bao gồm lượng chất đi do trao đổi nước, lượng chất đi từ biển vào không khí, lượng chất bị phân hủy hóa học, sinh hóa và lượng chất lắng đọng vào bùn đáy).

Sự bảo tồn trạng thái bình thường của môi trường biển đòi hỏi phải thỏa mãn những điều kiện hạn chế: 0< C ≤ NĐTHCP và ∆C < 0 trong đó NĐTHCP là nồng độ tới hạn cho phép của các chất ô nhiễm. Sức tải môi trường: Với quan điểm tiếp cận phòng ngừa ô nhiễm, năm 1986, UNESCO đã công bố báo cáo của Nhóm các chuyên gia về khoa học ô nhiễm biển (GESAMP), theo đó, sức tải môi trường (Environmental carrying capacity hay Environmental capacity) được định nghĩa "là một tài sản của môi trường và được xác định như khả năng chứa đựng các hoạt động hay là tốc độ các hoạt động (ví dụ thể tích chất thải trên một đơn vị 5 Luận án tiến sĩ Kĩ thuật thời gian, số lượng chất thải nạo vét trên một đơn vị thời gian, số lượng các muối khoáng được chiết trên một đơn vị thời gian) mà không có các tác động bất lợi" [3]. STMT sẽ biến đổi theo đặc trưng khu vực, loại và lượng thải, các hoạt động hoặc các nguồn tài nguyên, các tiện ích bị ảnh hưởng. Theo định nghĩa này, cần phải làm rõ ngưỡng nào của môi trường thì có các tác động bất lợi.

Trong cuộc hội thảo diễn ra từ ngày 12 -15/5/2002 tại Malaysia về “Xác định sức tải môi trường khu vực biển và ven bờ: tiến trình, sự bắt buộc và lựa chọn tương lai”, một loạt các khái niệm và cách hiểu về STMT được đưa ra. Đây là một sự tổng hợp toàn diện các kết quả nghiên cứu về STMT cho tới thời điểm đó. Về phía nuôi trồng loài hai mảnh vỏ, STMT được định nghĩa là ”trữ lượng tối đa của một hệ sinh thái cụ thể với mức sản xuất tối đa mà không có các ảnh hưởng bất lợi đến tốc độ tăng trưởng’’ [6]. Định nghĩa này khá hẹp do chỉ tập trung vào các loài hai mảnh vỏ trong NTTS.

Mục đích là tối đa sức sản xuất và tối ưu sự kết hợp các loài và đóng góp vào việc giảm thiểu các tác động môi trường do việc nuôi trồng. Cũng liên quan đến nuôi trồng loài hai mảnh vỏ, khả năng tải đã được điều chỉnh thành bốn loại [7]: 1) Khả năng tải vật lý - "tổng diện tích các trang trại biển có thể được chứa đựng trong không gian vật lý sẵn có"; 2) Khả năng tải sản xuất - "mật độ thả của loài hai mảnh vỏ sao cho thu hoạch đạt tối đa "; 3) Khả năng tải sinh thái - "mật độ thả giống hoặc mật độ trang trại mà tại đó gây ra các tác động sinh thái không thể chấp nhận được"; 4) Khả năng tải xã hội - "mức phát triển nông trại mà tại đó gây ra các tác động xã hội không thể chấp nhận." Do hệ sinh thái có nhiều chức năng nên nhu cầu quản lý bền vững càng ngày càng gia tăng. Vì vậy, một định nghĩa chung về sức tải ở mức hệ sinh thái có thể là “một sự thay đổi mà một quá trình phải chịu trong một hệ sinh thái cụ thể mà không có sự thay đổi về cấu trúc và chức năng của nó quá các giới hạn cho phép” [8]. Tương tự như vậy, “khả năng tải” đề cập đến mức sản xuất (quy mô sản xuất hoặc mật độ nuôi trồng) mà không gây ra “tác động bất lợi đến môi trường rộng hơn” [9].

Ngắn gọn hơn, khả năng tải (CC – Carrying Capacity), tức là mật độ thả giống mà tại đó sức khỏe hệ sinh thái không bị tổn hại [10]. Ken Furuya (2003) [11], đề cập rằng STMT có thể được định nghĩa theo nhiều cách bởi vì các thủy vực ven bờ có các chức năng khác nhau. Hiểu biết về chu kỳ vật 6 Luận án tiến sĩ Kĩ thuật chất trong tự nhiên và các HST sẽ cho ta những kiến thức quan trọng trọng việc định nghĩa STMT. Định nghĩa của Furuya về STMT khá đơn giản, là sức sản xuất tối đa hoặc trữ lượng tối đa với tác động môi trường ít nhất.

Khái niệm STMT này cũng khá hẹp như các khái niệm của Pedro Duarte (2003) [6] chỉ tập trung vào 1 số loài trong HST, trong khi ngoài NTTS, thủy vực còn chịu tác động của nhiều hoạt động khác. Chang Hee- Lee, (2003) [12] tiếp cận STMT qua việc tính toán tổng lượng thải tối đa thải ra hồ Shihwa để điều chỉnh và xử lý nguồn phát thải sao cho chất lượng nước trong hồ đạt đến mức có thể sử dụng cho công nghiệp và tưới tiêu. Công trình này được thực hiện dựa vào ý tưởng tổng tải lượng ô nhiễm từ các lưu vực và các nguồn nội tại cần phải được kiểm soát trong năng lực đồng hóa của nguồn nước tiếp nhận. Hệ thống này đã được thực hiện ở Nhật Bản và Mỹ dưới dạng “Hệ thống kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm phạm vi rộng” và “tổng tải lượng tối đa hàng ngày” (TMDL), tương ứng.

Trong vòng 10 năm trở lại đây, khái niệm “sức tải môi trường nước” (water environmental carrying capacity) được nghiên cứu khá nhiều, mang ý nghĩa rộng hơn và có nhiều cách hiểu. Trong một nghiên cứu ở thành phố Hoài An nằm ở lưu vực sông Huaihe, STMT nước được định nghĩa là “quy mô dân số và kinh tế lớn nhất mà môi trường nước có thể hỗ trợ ở một khu vực cụ thể trong một khoảng thời gian mà không ảnh hưởng xấu đến môi trường nước khu vực” [13]. Cũng mang ý nghĩa như vậy, STMT nước được hiểu là “tốc độ tiêu thụ tài nguyên và xả thải tối đa có thể được duy trì vô thời hạn trong một khu vực nhất định mà không làm giảm tính toàn vẹn chức năng và năng suất của HST có liên quan” [14]. Ở đây, STMT nước không chỉ đề cập đến chất thải, chất lượng môi trường mà còn mở rộng đến tài nguyên, mức tiêu thụ tài nguyên, tính dễ tổn thương của môi trường nước và cả các yếu tố kinh tế - xã hội khác như trình độ công nghệ, thể chế v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đánh giá sức tải môi trường đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Thừa Thiên Huế" là một nghiên cứu chuyên sâu về khả năng chịu tải của hệ sinh thái đầm phá, một trong những khu vực sinh thái quan trọng nhất miền Trung Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện trạng môi trường mà còn đề xuất các giải pháp bền vững để quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà khoa học và những ai quan tâm đến bảo tồn hệ sinh thái ven biển.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm các nghiên cứu liên quan như Luận văn thạc sĩ tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị, hoặc Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp bảo vệ bờ biển huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và giải pháp thiết thực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường.