phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về ANNN và giới thiệu lƣu vực sông Mã. Trong chƣơng này luận án tập trung tổng quan và đánh giá các nghiên cứu đã có trên thế giới và Việt Nam, lƣu vực sông Mã về ANNN, đặc biệt các nghiên cứu liên quan đến khung ANNN, chỉ số ANNN để đƣa ra vấn đề cốt lõi của đề tài luận án. Giới thiệu về lƣu vực sông Mã và đánh giá những đặc điểm lƣu vực liên quan đến ANNN. Chƣơng 2: Nghiên cứu xây dựng các chỉ số ANNN lƣu vực sông Việt Nam.
Trong chƣơng này luận án nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất bộ chỉ số ANNN lƣu vực sông phù hợp với điều kiện và đặc điểm khai thác sử dụng, quản lý tài nguyên nƣớc của các lƣu vực sông Việt Nam cũng nhƣ lƣu vực sông Mã. Chƣơng 3: Xác định chỉ số ANNN lƣu vực sông Mã và đề xuất giải pháp đảm bảo ANNN của lƣu vực: Luận án đã đi tính toán và xác định các chỉ số ANNN cho một số vùng điển hình trên lƣu vực sông Mã dựa trên các thông tin số liệu thực tế về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ nguồn nƣớc, môi trƣờng của lƣu vực và đề xuất các định hƣớng giải pháp đảm bảo ANNN của lƣu vực. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ AN NINH NGUỒN NƢỚC VÀ GIỚI THIỆU LƢU VỰC SÔNG MÃ 1.1 Khái niệm về an ninh nguồn nƣớc An ninh nguồn nƣớc là vấn đề rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu từ khái niệm cơ bản, phƣơng pháp luận đến xây dựng các chỉ số ANNN và ứng dụng cho các quy mô không gian khác nhau.
Hiện nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ANNN nhƣng nó vẫn đang tiếp tục đƣợc phát triển, một số định nghĩa về ANNN thƣờng dùng hiện nay có thể kể đến nhƣ sau: Tổ chức cộng tác vì nƣớc toàn cầu (GWP) năm 2000 đề xuất khái niệm: “ANNN là sự đảm bảo an toàn nguồn nƣớc ở mọi cấp độ từ gia đình đến toàn cầu, có nghĩa là mọi ngƣời đều đƣợc cung cấp đủ nƣớc sạch với chi phí phải chăng phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, đồng thời đảm bảo môi trƣờng tự nhiên đƣợc bảo tồn và phát huy„„ [6].Sadoff năm 2007 đã đƣa ra định nghĩa: „„ANNN là lƣợng nƣớc sẵn có, đảm bảo về trữ lƣợng và chất lƣợng cho sức khỏe, sinh hoạt, hệ sinh thái và sản xuất đã tính đến khả năng xảy ra rủi ro cho con ngƣời, môi trƣờng và nền kinh tế„„. Nói một cách đơn giản, ANNN liên quan đến việc KTSD nguồn nƣớc trong khi hạn chế các ảnh hƣởng tiêu cực [7].Dunn và cộng sự năm 2014 nghiên cứu trên phạm vi lƣu vực sông đã định nghĩa ANNN đầu nguồn là: "Sử dụng bền vững nguồn nƣớc sông với số lƣợng nƣớc hợp lý có chất lƣợng chấp nhận đƣợc để đảm bảo sức khoẻ con ngƣời và hệ sinh thái„„ [8]. Một định nghĩa gần đây nhất của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đƣa ra định nghĩa mang tính xã hội bao quát hơn: „‟ANNN là học cách sống chấp nhận với một mức độ rủi ro về nƣớc‟‟ [9].2 Nghiên cứu về an ninh nguồn nƣớc trên thế giới 1.1 Những nghiên cứu về phương pháp luận an ninh nguồn nước Phƣơng pháp luận về ANNN đã đƣợc nghiên cứu thông qua mức độ thiếu nƣớc đối với nhu cầu của hệ sinh thái tự nhiên và nhu cầu sử dụng của con ngƣời cho sự tồn tại và phát triển. Đã có một số nhà nghiên cứu về khái niệm mức độ khan hiếm hoặc chỉ số căng thẳng nguồn nƣớc ở các phạm vi, quy mô khác nhau.
Một số nghiên cứu điển hình nhất gần đây gồm: M.Falkenmark và cộng sự năm 1989 đã phát triển một trong những chỉ số rộng nhất đƣợc sử dụng để đo lƣờng chỉ số căng thẳng nguồn nƣớc trên cơ sở lƣợng nƣớc sử dụng bình quân đầu ngƣời mỗi năm của quốc gia hoặc vùng. Dựa vào giá trị chỉ số để phân mức căng thẳng nƣớc: khi chỉ số có giá trị >1700 m3/ngƣời/năm là không căng thẳng; từ 1000-17000 m3/ngƣời/năm là căng thẳng; từ 500-1000 m3/ngƣời/năm là khan hiếm và <500 m3/ngƣời/năm là cực kỳ khan hiếm nƣớc [10].Raskin và cộng sự năm 1997 cho rằng sự khan hiếm nƣớc là tỷ lệ % lƣợng nƣớc sử dụng so với lƣợng nƣớc sẵn có và đƣợc gọi là chỉ số căng thẳng nguồn nƣớc. Raskin và cộng sự đã chỉ ra các nƣớc khai thác 20-40% lƣợng nƣớc sẵn có đƣợc xem là căng thẳng nguồn nƣớc, khai thác >40% là căng thẳng nguồn nƣớc nghiêm trọng. Phƣơng pháp này có hạn chế chƣa xét tới nguồn nƣớc nhân tạo, sự cải thiện cơ sở hạ tầng, điều chỉnh mức khan hiếm nƣớc, sự thích nghi của xã hội và sự tái tạo tài nguyên nƣớc [11].
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) năm 2013, đã đề xuất một phƣơng pháp tiếp cận cơ bản mới để cải thiện và đánh giá ANNN ở quy mô quốc gia. Đó là dựa trên cách tiếp cận rủi ro bằng việc xác định mức độ chấp nhận đƣợc của mỗi trong bốn nguy cơ chính về nƣớc: (1) Nguy cơ thiếu hụt nƣớc (bao gồm cả hạn hán): thiếu nƣớc để đáp ứng đầy đủ nhu cầu (trong cả ngắn hạn và dài hạn) cho sử dụng có giá trị của tất cả hộ sử dụng nƣớc (gia đình, ngành nghề và môi trƣờng); (2) Rủi ro về chất lƣợng không đảm bảo: thiếu nƣớc có chất lƣợng phù hợp cho một mục đích hoặc sử dụng cụ thể; (3) Nguy cơ dƣ thừa nƣớc (lũ lụt); (4) Nguy cơ làm giảm khả năng phục 9 hồi của hệ thống nƣớc ngọt. Theo OECD tất cả bốn rủi ro phải đƣợc đánh giá một cách tổng hợp nhằm giảm nguy cơ có thể làm tăng rủi ro khác [9]. Nghiên cứu về phƣơng pháp luận ANNN có phạm vi rộng hơn, C.
Bakker năm 2012 đã chỉ ra sự đa dạng và đặc điểm nghiên cứu ANNN trong một số lĩnh vực nhƣ: nông nghiệp, kỹ thuật, khoa học môi trƣờng, thuỷ văn, sức khoẻ cộng đồng, nhân chủng học, kinh tế, địa lý, lịch sử, luật, quản lý, khoa học chính trị, chính sách và nguồn nƣớc. Nghiên cứu đã đề xuất với mỗi lĩnh vực khác nhau có xu hƣớng tập trung vào các chỉ số khác nhau. Từ đó tác giả đã đề xuất bốn lĩnh vực chính đƣợc nghiên cứu và sự tƣơng tác giữa chúng với nhau đó là: nhu cầu nƣớc của con ngƣời, nguồn nƣớc, tính bền vững và tính dễ bị tổn thƣơng [12].Chaves năm 2014 đã đánh giá hƣớng dẫn và yêu cầu chung cho phát triển chỉ số ANNN lƣu vực sông và cung cấp hƣớng sử dụng các chỉ số này cho tƣơng lai. Một chỉ số ANNN cần đƣợc tổng hợp từ các nguồn và quy trình khác, kết hợp quan hệ nguyên nhân – hậu quả.
Phát triển các chỉ số ANNN phải trải qua một quá trình kiểm định, áp dụng cho một loạt các lƣu vực và các kịch bản trƣớc khi đƣa vào ứng dụng cuối cùng [13].Dunn và cộng sự năm 2014 đã phát triển cách tiếp cận mới để đánh giá tình trạng ANNN gồm bốn khía cạnh quan trọng: (i). phát triển có sự tham gia của ngƣời dùng trực tiếp vào việc thiết kế phƣơng pháp đánh giá; (ii) phƣơng pháp này đƣợc thiết kế để thực hiện ở quy mô địa phƣơng; (iii). chỉ số ANNN là hàm đa biến dựa trên lƣợng nƣớc, chất lƣợng nƣớc, sức khỏe hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con ngƣời; và (iv). phƣơng pháp cung cấp kết quả đầu ra cụ thể để đƣa ra quyết định vào các quá trình quản lý nƣớc.
Cách tiếp cận này đã đƣợc ứng dụng ở Canada trong quản lý nƣớc cộng đồng [8].Xiao-jun và cộng sự năm 2012 cho rằng phát triển kinh tế, tăng trƣởng dân số, đô thị hóa và BĐKH đã dẫn đến tình trạng thiếu nƣớc ngày càng tăng trên toàn cầu. Đảm bảo ANNN dƣới thay đổi môi trƣờng sẽ là thách thức lớn nhất đối với các nhà quản lý tài nguyên nƣớc trong tƣơng lai gần. Nghiên cứu đã đề cập đến những rủi ro dựa trên 10 nhiều tiêu chí đƣợc đề xuất để đánh giá ANNN với các chiến lƣợc quản lý khác nhau. Mô hình này đã đƣợc áp dụng cho thành phố Ngọc Lâm của Tây Bắc Trung Quốc để đánh giá ANNN cũng nhƣ xác định các chiến lƣợc quản lý nƣớc trƣớc những thay đổi môi trƣờng [14].
Tổ chức Cộng tác vì nƣớc toàn cầu (GWP) năm 2014 cho rằng những thay đổi gần đây dẫn tới chỉ số ANNN cần thiết đƣa thêm yếu tố kinh tế và hệ sinh thái trong việc xác định chỉ số vì dân số tăng nhanh, cung cấp nƣớc cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt bị giảm nên đòi hỏi phải nghiên cứu chỉ số an ninh nguồn nƣớc với mô tả đầy đủ các rủi ro nhằm đảm bảo ANNN [15]. Nhƣ vậy các nghiên cứu chung về phƣơng pháp luận ANNN đã đƣợc phát triển từ khái niệm và kiến thức về sự khan hiếm nƣớc, căng thẳng nguồn nƣớc cho đến đánh giá ANNN qua các chỉ số với các khía cạnh khác nhau mang tính liên ngành, đa mục tiêu. Điều này đã đƣợc Tổ chức cộng tác vì nƣớc toàn cầu (GWP) [15] phân tích và điều chỉnh khái niệm ANNN mang tính tích hợp. Kể từ đó các nhà khoa học, kỹ thuật và quản lý chính sách bắt đầu sử dụng thuật ngữ “an ninh nguồn nƣớc” mang tính tích hợp liên ngành.2 Nghiên cứu về khung an ninh nguồn nước Khung ANNN đƣợc xem nhƣ một phác thảo chứa đựng các nhóm chỉ số phản ánh tổng hợp các khía cạnh cần xem xét để đánh giá tình trạng ANNN của một vùng, lƣu vực hay quốc gia.
Một số nghiên cứu điển hình về xây dựng khung ANNN nhƣ sau: D.Sadoff năm 2007 đã thảo luận những bối cảnh xác định và tác động đến ANNN. Để đạt đƣợc mức độ không còn những thách thức xã hội và đáp ứng ANNN cần đƣợc xác định bởi ba khía cạnh chính: (i). thủy văn môi trƣờng, tức “mức độ tuyệt đối sẵn có của TNN, phân bố biến thiên hàng năm theo không gian và thời gian, đó là di sản tự nhiên mà xã hội kế thừa‟‟; (ii).kinh tế môi trƣờng - xã hội phản ánh các di sản văn hóa và tự nhiên, các lựa chọn chính sách; và (iii). BĐKH sẽ là một phần quan trọng về những thay đổi trong môi trƣờng tƣơng lai.
Ba khía cạnh này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các thể chế, loại và quy mô cơ sở hạ tầng cần thiết để đạt đƣợc ANNN [7].