Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử với đề tài "Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015", mã số chuyên ngành 9.13 (Lịch sử Việt Nam), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương Loan thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Tuyết và TS. Nguyễn Thị Thu Thủy (bảo vệ năm 2021).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc Đổi mới tại Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đã trải qua hơn ba thập kỷ và ghi nhận nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh. Trong bức tranh kinh tế chung của cả nước thời kỳ Đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mỗi vùng, miền và địa phương có những bước chuyển dịch mang đặc thù riêng. Cẩm Khê là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Phú Thọ, được tái lập từ tháng 10 năm 1995 trên cơ sở chia tách huyện Sông Thao và huyện Hạ Hòa. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với xuất phát điểm kinh tế thấp, huyện Cẩm Khê đã trải qua 20 năm chuyển đổi mô hình và phát triển kinh tế (1995 - 2015).
Bên cạnh các kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế của địa phương vẫn bộc lộ hạn chế: quy mô kinh tế nhỏ, tốc độ phát triển chưa cao, chưa phát huy tương xứng tiềm năng và lợi thế tự nhiên, dân cư. Trước khi luận án được triển khai, các nghiên cứu hiện có về kinh tế Đổi mới chủ yếu tập trung ở quy mô quốc gia, cấp vùng kinh tế trọng điểm hoặc quy mô toàn tỉnh; các nghiên cứu riêng về Cẩm Khê chỉ đề cập cục bộ từng khía cạnh hẹp (chuyển dịch cơ cấu ngành trước năm 1995, phát triển nông nghiệp giai đoạn ngắn, làng nghề hoặc giải quyết việc làm). Do đó, khoảng trống khoa học về một công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế toàn diện, có hệ thống và đầy đủ chuỗi dữ liệu trong 20 năm đầu sau tái lập huyện Cẩm Khê (1995 - 2015) là lý do luận án được thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và thách thức tồn tại trong tiến trình phát triển; qua đó cung cấp tư liệu khoa học phục vụ công tác tổng kết lý luận, chỉ đạo thực tiễn tại địa phương và đóng góp một góc nhìn cụ thể vào bức tranh lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ khoa học chính:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Phân tích các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm điều kiện tự nhiên, dân cư - nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế, tiền đề kinh tế trước năm 1995 và hệ thống chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và địa phương.
- Nhiệm vụ thứ hai: Trình bày có hệ thống tình hình thực tế của các ngành kinh tế trên địa bàn huyện trong 20 năm (1995 - 2015), gồm 3 nhóm ngành: nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản); công nghiệp - xây dựng (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, xây dựng); thương mại - dịch vụ.
- Nhiệm vụ thứ ba: Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về những chuyển biến của nền kinh tế huyện Cẩm Khê (quy mô, tốc độ, cơ cấu, mô hình tổ chức, quan hệ kinh tế) và tác động của kinh tế tới các lĩnh vực giáo dục, y tế, an ninh trật tự và môi trường sinh thái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, tập trung vào thực trạng và diễn tiến của 3 nhóm ngành kinh tế chính: nông - lâm - thủy sản; công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (gồm 30 xã và 1 thị trấn). Trong đó, giai đoạn từ 1995 đến 2002 huyện mang tên huyện Sông Thao; từ năm 2002 được đổi lại tên huyện Cẩm Khê theo tên gọi lịch sử.
- Phạm vi thời gian: Mốc mở đầu là năm 1995 (thời điểm huyện được tái lập) và mốc kết thúc là năm 2015 (đánh dấu chặng đường 20 năm phát triển sau tái lập, gắn với 20 năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa). Một số nội dung có liên hệ so sánh với giai đoạn trước năm 1995 và sau năm 2015 để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
- Phạm vi nội dung: Quá trình triển khai chủ trương, chính sách; diễn biến thực trạng sản xuất, kinh doanh; những kết quả, thành tựu và hạn chế trong từng nhóm ngành kinh tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại khối lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới
- Về đổi mới quản lý kinh tế: Công trình của Vũ Tuấn Anh (chủ biên, 1994) phân tích đổi mới chính sách kinh tế và vai trò của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu; Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX02 (1997) đánh giá thực trạng cơ chế quản lý kinh tế sau 10 năm Đổi mới; Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân (2002) phân tích tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùng, thành phần; Lương Xuân Quý (2006) nghiên cứu quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nguyễn Duy Quý (2009) luận giải quá trình đổi mới tư duy quản lý kinh tế của Đảng.
- Về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ngô Đình Giao (1994), Đỗ Hoài Nam (1996), Bùi Tất Thắng (1997, 2006), Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999), Lương Xuân Quý (2001), Nguyễn Trần Quế (2004), Phan Công Nghĩa (2007), Trương Thị Minh Sâm (2007), Phạm Thị Khanh (2010) đã xây dựng cơ sở lý luận, chỉ rõ quy luật chuyển dịch cơ cấu ngành gắn với phát triển ngành mũi nhọn, cơ cấu vùng và tính bền vững.
- Về các thành phần kinh tế: Trần Hoàng Kim (1992), Đỗ Hoài Nam (1993), Vũ Đình Bách (2001), Lê Hữu Nghĩa và Đinh Văn Ân (2004), Nguyễn Thanh Tuyền (2004), Nguyễn Minh Phong (2004), Chử Văn Lâm (2006), Phạm Văn Sơn (2011), Lê Xuân Bá (2013), và công trình tổng kết 30 năm phát triển kinh tế tập thể (2016) tập trung làm rõ vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể (HTX) và kinh tế tư nhân.
- Về kinh tế vùng, quy mô và tăng trưởng: Lâm Quang Huyên (2002), Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003), Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Lê Thu Hoa (2007), Trần Thọ Đạt (2005, 2010), Lương Minh Cừ, Đào Duy Huân, Phạm Đức Hải (2012), Nguyễn Trọng Xuân (2013), Đỗ Thị Thanh Loan (2016), cùng ấn phẩm tổng kết "30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam" (2015).
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu kinh tế địa phương thời kỳ Đổi mới
Bao gồm các luận án tiến sĩ nghiên cứu trường hợp cụ thể: Vũ Ngọc Kỳ (1996, Yên Bái), Đào Thị Bích Hồng (2011, Bạc Liêu), Trần Thị Thái (2015, Nam Định), Vũ Trọng Hùng (2017, Vĩnh Phúc), Bùi Thị Nguyệt Quỳnh (2017, Hòa Bình), Nguyễn Thị Nguyền (2012, Lào Cai), Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2010, Thái Nguyên), Lê Hồng Sơn (Hà Giang/Vị Xuyên). Các công trình này cung cấp khung phương pháp tiếp cận lịch sử - kinh tế cấp tỉnh và huyện.
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ
Bao gồm: sách "Lịch sử văn hóa truyền thống huyện Cẩm Khê" (2020); luận án tiến sĩ của Phùng Quang Mạc (1996) về chuyển dịch cơ cấu ngành huyện Sông Thao giai đoạn 1986 - 1995; luận án tiến sĩ của Tống Thị Nga (2014) về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp (1997 - 2010); luận án của Bùi Thị Thanh Tâm (2015) về kinh tế trang trại bền vững tại Phú Thọ; luận án của Chu Thanh Hải (2017) về quản lý nhà nước với kinh tế tư nhân thương mại tại Phú Thọ; luận văn thạc sĩ của Trần Văn Hùng (2010, làng nghề), Cao Kim Oanh (2013, nông nghiệp bền vững Cẩm Khê), Lưu Thế Vinh (2008), Nguyễn Thị Tâm (2013), Hoàng Trí Thức (2018).
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các công trình đi trước đã nghiên cứu nhiều khía cạnh riêng lẻ của tỉnh Phú Thọ hoặc thời kỳ trước năm 1995 của huyện Sông Thao, chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện, liên tục và hệ thống tiến trình vận động của nền kinh tế huyện Cẩm Khê trong trọn vẹn 20 năm (1995 - 2015) trên cả 3 khu vực kinh tế, gắn với bối cảnh thể chế của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận sử học mác-xít (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), quán triệt các quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VIII đến Đại hội XII) và các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy Cẩm Khê.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử với phương pháp kinh tế học và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện quá trình phát triển, các sự kiện kinh tế của huyện Cẩm Khê theo trình tự thời gian khách quan (1995 - 2015) trong bối cảnh chung của đất nước.
- Phương pháp logic: Làm rõ mối quan hệ nhân quả, quy luật vận động nội tại của các ngành kinh tế, phân tích mối liên hệ giữa chủ trương lãnh đạo với kết quả thực tiễn, rút ra các đặc điểm, chuyển biến và tác động kinh tế - xã hội.
- Phương pháp kinh tế học và thống kê định lượng: Thu thập, xử lý chuỗi số liệu thời gian, lập các bảng thống kê và biểu đồ so sánh cơ cấu, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng lao động và diện tích cây trồng qua từng năm/mốc 5 năm.
- Phương pháp liên ngành bổ trợ: Khảo sát thực địa (điền dã), quan sát, phỏng vấn nhân chứng địa phương, so sánh đối chiếu liên huyện (Thanh Ba, Hạ Hòa, Cẩm Khê).
Nguồn tư liệu sử dụng
- Văn kiện chỉ đạo: Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy và UBND huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015.
- Tư liệu thống kê gốc: Niên giám thống kê huyện Cẩm Khê và Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ (các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2015), báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ của các phòng ban chuyên môn huyện (Phòng Tài nguyên & Môi trường, Nông nghiệp, Công Thương...).
- Tài liệu nghiên cứu và báo chí: Sách chuyên khảo, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo, báo Phú Thọ, đài truyền thanh địa phương.
- Tư liệu điền dã thực tế: Ghi chép khảo sát hiện trường tại các làng nghề, trang trại, cụm công nghiệp và hồ đầm trên địa bàn huyện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này tổng thuật toàn diện 3 nhóm công trình: các nghiên cứu về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới (quản lý, cơ cấu, thành phần, kinh tế vùng, tăng trưởng); các nghiên cứu về kinh tế địa phương trên cả nước; các nghiên cứu về kinh tế huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ. Tác giả chỉ rõ các kết quả kế thừa về mặt lý luận, phương pháp tiếp cận và khẳng định tính độc lập, khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
Chương 2 phân tích các tiền đề không gian, tự nhiên, dân cư, hạ tầng và lịch sử tác động đến nền kinh tế địa phương:
- Địa giới hành chính: Huyện Cẩm Khê thuộc tỉnh Vĩnh Phú (sau sáp nhập Vĩnh Phúc - Phú Thọ năm 1968). Theo Nghị định 178/CP ngày 5/7/1977, thành lập huyện Sông Thao (hợp nhất Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã hữu ngạn huyện Hạ Hòa). Năm 1980 tách Yên Lập. Đến ngày 7/10/1995, tách 10 xã trả về Hạ Hòa, huyện Sông Thao trở lại địa giới cũ với 30 xã, 1 thị trấn, diện tích 23.425 ha. Ngày 8/4/2002, Nghị định 39-NĐ/CP đổi tên Sông Thao thành huyện Cẩm Khê.
- Vị trí địa lý và địa hình: Tọa độ 21°15' - 21°29'B, 104°57' - 105°13'Đ, dài 40km, rộng trung bình 10km; giáp sông Thao/Thanh Ba (Đông), Yên Lập (Tây), Tam Nông (Nam), Hạ Hòa (Bắc). Địa hình bán sơn địa gồm: vùng núi phía Tây (chiếm 10% diện tích, dốc >25°, cao >300m - 500m); vùng đồi trung du gò đồi (chiếm 15,4% diện tích, dốc 15° - 25°, cao <40m); vùng đồng bằng ven sông và lòng chảo trũng (chiếm 74,6% diện tích).
- Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên năm 2015 là 23.392,4 ha (bảng 2.1 ghi 23.932,4 ha). Đất nông, lâm, thủy sản chiếm 18.290,3 ha (78,2%). Đất đai gồm 5 nhóm chính: đất phù sa ven sông (4.817,18 ha; 24,9%), đất glây vùng trũng, đất xám và đất xám Feralit trên vùng đồi dốc.
| STT |
Loại đất |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| 1 |
Đất phù sa |
4.817,18 |
24,9 |
| -- |
Các loại đất khác (glây, xám, feralit...) |
-- |
-- |
| Tổng |
Tổng diện tích tự nhiên |
23.932,4 |
100,0 |
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình cao nhất 22,5°C - 38,5°C, thấp nhất 10°C; độ ẩm trung bình 87%; lượng mưa trung bình 1.874 mm/năm (biên độ 224,1 mm - 2.185 mm). Sông Thao dài 21,5 km qua huyện (lưu lượng 520 - 1.647 m³/s), sông Bứa dài 5 km. Hệ thống hồ đầm lớn: đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung, hồ Dục Gạo, hồ Dục Bò, Ba Vực, Vực Sy; đập Ban, Đát Dội, Oai, Ba, Chắp.
- Tài nguyên khoáng sản: 19 mỏ và điểm quặng (5 mỏ nhỏ, 14 điểm quặng) gồm than nâu (Tiên Lương), sắt, quarzit (Tam Sơn 900.000 m³, Hương Lung 12 triệu m³), kaolin (Tiên Lương 103.000 tấn, Ngô Xá 202,3 nghìn tấn), sét gạch ngói (Tiên Lương 20 triệu m³, Cấp Dẫn 10 triệu m³), sét gốm Tuy Lộc (258.000 tấn), cát sỏi xây dựng (Sơn Nga 2,5 triệu m³).
- Dân cư và lao động: Dân số tăng từ 124.610 người (1995) lên 131.003 người (2015), tăng bình quân 0,92%/năm. Mật độ dân số năm 2015 là 544 người/km². Dân cư nông thôn chiếm tỷ lệ áp đảo (95,7% năm 1995 và 95,6% năm 2015). Cơ cấu tôn giáo: Thiên Chúa giáo chiếm 12,8% dân số (khoảng 3.000 người, huyện có giáo dân đông nhất tỉnh Phú Thọ). Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 5,6% (1995: 3.328 người) lên 7,8% (2005: 4.994 người) và 18,85% (2015: 14.892 người).
| Chỉ tiêu |
Đơn vị |
1995 |
2000 |
2005 |
2010 |
2015 |
| Tổng dân số |
Người |
124.610 |
126.960 |
127.350 |
128.514 |
131.003 |
| Dân số trong độ tuổi có KNLĐ |
Người |
61.017 |
-- |
-- |
-- |
80.017 |
| Lao động đang làm việc trong các ngành KT |
Người |
59.426 |
61.278 |
64.912 |
71.948 |
78.995 |
| - Nông, lâm, thủy sản |
Người |
59.087 |
60.614 |
63.262 |
61.854 |
58.745 |
| - Công nghiệp - xây dựng |
Người |
157 |
205 |
542 |
5.762 |
10.825 |
| - Thương mại - dịch vụ |
Người |
182 |
459 |
1.108 |
4.332 |
9.425 |
- Hạ tầng kỹ thuật:
- Giao thông: Năm 1995 toàn huyện chỉ có 1 km đường nhựa cấp 5 miền núi. Đến năm 2015, có trên 1.000 km đường bộ; Quốc lộ 32C dài 31 km; cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua 5 xã dài 10,75 km (thông xe tháng 9/2014); 4 tuyến tỉnh lộ dài 60 km; đường huyện 9 tuyến dài 68,8 km (cứng hóa 100%); đường liên thôn 624,2 km (bê tông 455 km). Mật độ đường đạt 4,4 km/km² (tỉnh là 10,09 km/km²).
- Mạng lưới điện: Năm 1995 chỉ có 8/31 xã có điện lưới. Đến năm 2003 đạt 100% số xã có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dùng điện tăng từ 76,37% (2002) lên 97,27% (2008). Đến 2015 có 1 trạm 110 kV, 179 máy biến áp (37.740 kVA), 94 km đường dây 35 kV, 82 km đường dây 10 kV, 462 km đường dây 0,4 kV; giai đoạn 2011 - 2014 đạt sản lượng 180 triệu kWh, doanh thu 251,1 tỷ đồng.
- Thủy lợi: Năm 1990 có 58 công trình (tưới 3.063 ha, đạt 25,1% diện tích). Đến năm 2015 có 147 công trình (73 hồ đập tưới 1.220 ha, 45 phai đập tưới 160 ha, 26 trạm bơm điện tưới 1.620 ha, 80 trạm bơm dã chiến tưới 700 ha); kênh mương 446,6 km (kiên cố hóa 98,2 km, đạt 39,2%).
- Kinh tế trước năm 1995: Sau 1975, 100% HTX lên quy mô toàn xã (HTX Tuy Lộc là lá cờ đầu). Triển khai Chỉ thị 100-CT/TW (Khoán 100) năm 1981 giúp sản lượng quy thóc năm 1982 tăng 7,5% so với 1981; tuy nhiên cơ chế bộc lộ hạn chế (khoán trắng, thiếu đói giáp hạt) trước khi bước vào thời kỳ Đổi mới.
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
Trình bày chủ trương và diễn biến phát triển cụ thể của ba lĩnh vực:
- Nông nghiệp (Trồng trọt và Chăn nuôi): Chuyển đổi cơ cấu giống lúa năng suất cao kết hợp bảo tồn lúa đặc sản (nếp Gà Gáy, nếp cẩm, lúa sọc ven sông Thao, lúa mộ, lúa lại cái); mở rộng diện tích rau màu, ngô, sắn, cây ăn quả và cây công nghiệp (chè, sơn); gia tăng sản lượng thịt gia súc, gia cầm.
- Lâm nghiệp: Triển khai các dự án trồng rừng mới, giao đất giao rừng, phát triển cây nguyên liệu giấy (keo, bạch đàn) và chuyển đổi diện tích rừng cọ truyền thống sang kinh tế đồi rừng kết hợp.
- Thủy sản: Khai thác diện tích mặt nước đầm, hồ lớn (đầm Đung, đầm Meo, hồ Dục Gạo, Dục Bò...) phát triển nuôi trồng thủy sản các giống truyền thống và đặc sản (trắm đen, cá chép đỏ), từng bước đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Chương 4: Kinh tế tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và xây dựng huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015
- Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Khôi phục, duy trì các làng nghề truyền thống gắn với chế biến nông lâm sản, mộc dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng gạch ngói, nón lá, chế biến chè.
- Công nghiệp và xây dựng: Thu hút đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, chế biến khoáng sản (sét gạch ngói, kaolin, đá vôi) và phát triển các doanh nghiệp xây dựng phục vụ kiên cố hóa giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi.
Chương 5: Kinh tế thương mại và dịch vụ huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
- Thương mại: Phát triển mạng lưới chợ nông thôn tại các cụm xã, gia tăng số lượng hộ và cơ sở kinh doanh cá thể, bảo đảm lưu thông hàng hóa nông sản và hàng tiêu dùng.
- Dịch vụ: Mở rộng dịch vụ vận tải đường bộ, bến đò đường sông Thao; hiện đại hóa mạng lưới bưu chính viễn thông, đài truyền thanh phủ sóng 100% xã (từ 2002); mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất; bước đầu định hướng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái đầm hồ và danh thắng cảnh quan (Ba Vực).
Chương 6: Một số nhận xét về kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015
- Chuyển biến kinh tế: Quy mô kinh tế mở rộng, tốc độ tăng trưởng duy trì qua các giai đoạn 5 năm; cơ cấu ngành kinh tế dịch chuyển tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; cơ cấu lao động chuyển dịch tương ứng (lao động công nghiệp và dịch vụ từ 339 người năm 1995 tăng lên trên 20.000 người năm 2015). Đổi mới mô hình quản lý HTX theo Luật Hợp tác xã, phát triển kinh tế trang trại và doanh nghiệp tư nhân.
- Tác động xã hội: Thu nhập bình quân đầu người tăng; hạ tầng điện, đường, trường, trạm góp phần nâng cao tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, cải thiện điều kiện giáo dục; giữ vững an ninh trật tự nông thôn. Đồng thời, chỉ ra những vấn đề đặt ra về áp lực môi trường trong chế biến tiểu thủ công nghiệp và khai thác tài nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về lịch sử kinh tế huyện Cẩm Khê trong trọn vẹn 20 năm (1995 - 2015) kể từ khi tái lập huyện.
- Phục dựng bức tranh kinh tế khách quan, chân thực với đầy đủ các mảng sáng và mảng tối tại một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Làm rõ quá trình vận dụng đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của một địa phương có xuất phát điểm thấp, góp phần cung cấp thêm luận cứ thực tế cho công tác nghiên cứu lịch sử kinh tế địa phương.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Hệ thống hóa toàn bộ chuỗi số liệu thống kê kinh tế gốc của huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015, phục vụ việc tra cứu, đối chiếu và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ trong việc đánh giá hiệu quả chính sách, rút kinh nghiệm quản lý kinh tế và xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho các giai đoạn tiếp theo.
- Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập chuyên đề Lịch sử địa phương tỉnh Phú Thọ và lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Đề xuất và giải pháp
- Tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng thủy lợi nội đồng và mạng lưới giao thông liên xã, đường ra đồng để phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp.
- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của các cụm công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu lao động.
- Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, phát triển các sản phẩm đặc sản có thế mạnh địa phương (nếp Gà Gáy, thủy sản hồ đầm) gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với việc khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường sinh thái hồ đầm và phát triển làng nghề bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế từ nguồn tư liệu: Các mỏ khoáng sản và điểm quặng trên địa bàn chủ yếu dừng lại ở số liệu điều tra, dự báo sơ bộ; tài nguyên nước ngầm chưa có khảo sát đo đạc trữ lượng chuyên sâu. Nguồn tài liệu báo chí địa phương tuy phản ánh thực tế triển khai nhưng độ khái quát học thuật chưa đồng đều.
- Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn thời gian nghiên cứu kết thúc ở mốc năm 2015, luận án chưa phân tích sâu những biến động kinh tế và việc sáp nhập, điều chỉnh địa giới một số đơn vị hành chính cấp xã của huyện Cẩm Khê trong giai đoạn sau năm 2015.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá tiến trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 2015 đến nay; nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả kinh tế của các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị sản phẩm làng nghề và du lịch sinh thái hồ đầm trên địa bàn huyện.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng sau:
- Cán bộ quản lý, hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng về những rào cản hạ tầng giao thông, thủy lợi và chuyển dịch cơ cấu lao động tại Cẩm Khê, hỗ trợ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế cấp huyện miền núi trung du.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu lịch sử kinh tế cấp huyện, phương pháp xử lý số liệu niên giám thống kê địa phương kết hợp tài liệu văn kiện Đảng và khảo sát thực địa.
- Các cơ sở đào tạo tại Phú Thọ: Là tài liệu phục vụ biên soạn giáo trình, bài giảng Lịch sử địa phương tại Trường Đại học Hùng Vương, Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ và các trường phổ thông trên địa bàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa danh và địa giới hành chính huyện Cẩm Khê có những thay đổi lớn nào từ sau năm 1975 đến năm 2015?
Trả lời: Ngày 5/7/1977, huyện Cẩm Khê hợp nhất với Yên Lập và 10 xã huyện Hạ Hòa thành huyện Sông Thao. Ngày 22/12/1980, tách 17 xã Yên Lập. Ngày 7/10/1995, tách 10 xã trả về Hạ Hòa, huyện Sông Thao trở lại diện tích Cẩm Khê cũ gồm 30 xã và 1 thị trấn. Ngày 8/4/2002, theo Nghị định 39-NĐ/CP, huyện Sông Thao được đổi tên trở lại thành huyện Cẩm Khê và giữ ổn định địa giới.
2. Tỷ trọng và cơ cấu sử dụng đất đai của huyện Cẩm Khê năm 2015 được ghi nhận như thế nào?
Trả lời: Tổng diện tích đất tự nhiên là 23.392,4 ha (bảng 2.1 ghi 23.932,4 ha). Trong đó, đất nông, lâm, thủy sản chiếm 18.290,3 ha (78,2% tổng diện tích). Cơ cấu nội bộ nhóm đất này gồm: đất sản xuất nông nghiệp 11.926,9 ha (65,2%), đất lâm nghiệp 5.149,3 ha (28,15%), đất nuôi trồng thủy sản 1.214,1 ha (5,14%) và đất khác.
3. Cơ cấu lao động của huyện Cẩm Khê chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 1995 - 2015?
Trả lời: Năm 1995, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 59.426 người, trong đó nông - lâm - thủy sản chiếm 59.087 người (99,4%), công nghiệp - xây dựng có 157 người, dịch vụ có 182 người. Đến năm 2015, tổng lao động tăng lên 78.995 người, trong đó nông - lâm - thủy sản giảm xuống còn 58.745 người (74,36%), công nghiệp - xây dựng tăng lên 10.825 người (13,70%), và dịch vụ tăng lên 9.425 người (11,93%).
4. Mạng lưới hạ tầng giao thông và điện lưới của Cẩm Khê đạt bước tiến gì tính đến năm 2015?
Trả lời: Giao thông phát triển từ 1 km đường nhựa cấp 5 năm 1995 lên hơn 1.000 km đường bộ năm 2015 (31 km Quốc lộ 32C, 10,75 km cao tốc Nội Bài - Lào Cai, 60 km tỉnh lộ, 68,8 km đường huyện cứng hóa 100%, 455 km đường bê tông liên thôn). Mạng lưới điện từ 8/31 xã có điện năm 1995 đã đạt 100% số xã có điện lưới quốc gia từ năm 2003; đến 2015 có 1 trạm 110 kV và 179 máy biến áp với tổng công suất 37.740 kVA.
5. Tiềm năng khoáng sản tự nhiên của huyện Cẩm Khê gồm những nguồn tài nguyên chính nào?
Trả lời: Toàn huyện có 19 mỏ và điểm quặng (5 mỏ nhỏ, 14 điểm quặng), bao gồm: than nâu (Tiên Lương), quặng sắt, quarzit (Tam Sơn 900.000 m³, Hương Lung 12 triệu m³), kaolin (Tiên Lương 103.000 tấn, Ngô Xá 202,3 nghìn tấn), sét gạch ngói (Tiên Lương 20 triệu m³, Cấp Dẫn 10 triệu m³), sét gốm (Tuy Lộc 258.000 tấn) và cát xây dựng (Sơn Nga 2,5 triệu m³).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương Loan đã phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) trong 20 năm đầu sau tái lập huyện (1995 - 2015). Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, logic và phân tích thống kê chuỗi số liệu từ nguồn lưu trữ địa phương, công trình đã làm rõ những chuyển biến trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ của một huyện miền núi phía Bắc thời kỳ Đổi mới. Luận án chỉ ra các bước tiến về cơ sở hạ tầng, quy mô kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động, đồng thời nêu bật những hạn chế về chất lượng tăng trưởng và rào cản phát triển. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kinh tế địa phương và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Phú Thọ.