Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch làng nghề truyền thống. Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. 10 Footer Page 14 of 107.
Header Page 15 of 107. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1. Các khái niệm cơ bản liên quan 1. Du lịch Ngày nay, du lịch đang phát triển rất mạnh mẽ và trở thành hoạt động không thể thiếu của toàn xã hội.
Thuật ngữ “du lịch” xuất hiện từ rất lâu và đã có rất nhiều nghiên cứu. Cũng vì vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về du lịch do các nhà nghiên cứu có các cách tiếp cận và quan điểm riêng. Có người cho rằng du lịch chỉ là sự đi chơi của các cá nhân trong một khoảng cách nhất định về địa lý. Một số khác khi đề cập đến khái niệm du lịch thì lại quan tâm đến sự lưu trú qua đêm của khách.
Ngoài ra, du lịch còn được mô tả một cách đa dạng, gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí, thỏa mãn các nhu cầu khác của con người, về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước đều bao hàm trong đó ý nghĩa du lịch (trừ việc nhập cư, cư trú chính trị, đi tìm việc làm hay xâm lược). Theo Machaud, nhà địa lý học người Pháp, du lịch được hiểu “Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường xuyên với lý do giải trí, kinh doanh, sức khỏe, hội họp, thể thao và tôn giáo” [Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB Lao động – Xã hội, 2004]. Còn rất nhiều quan điểm khác nhau về du lịch của các học giả trong và ngoài nước, nhưng khái niệm về du lịch được sử dụng phổ biến ở Việt Nam là của I.Pirogionic, “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. Khái niệm du lịch được định nghĩa trong Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [Luật Du lịch, 2005].
Như vậy, định nghĩa về du lịch chứa đựng những nội dung cơ bản sau: 11 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. - Là sự di chuyển và cư trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của khách nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng. - Cùng với mục đích du lịch là việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ ở điểm đến của khách.
- Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế có liên quan đến khách du lịch. Tài nguyên du lịch Theo quy định tại điểm 3, điều 10 Luật Pháp lệnh Du lịch năm 2005, TNDL được hiểu: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”. TNDL có thể coi là tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế đã chứng minh, TNDL càng đặc sắc, càng phong phú thì sức hấp dẫn, hiệu quả du lịch càng cao.
Trên cơ sở đó, có thể hiểu: “TNDL là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người”. TNDL được chia thành 2 nhóm: TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn. TNDL tự nhiên bao gồm các thành phần, các thể tổng hợp tự nhiên, được khai thác trực tiếp hay gián tiếp, được sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch phục vụ cho mục đích phát triển du lịch, như địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật… TNDL nhân văn là những giá trị văn hóa lịch sử, các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, các lễ hội, các LNTT, văn hóa ẩm thực, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch ở một điểm, một vùng, một quốc gia. Điểm khác biệt giữa TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn là TNDL nhân văn do con người tạo nên, vì thế, chúng phản ánh tư tưởng, trình độ phát triển của con người ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
Do đó, chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch có nhu cầu tìm hiểu và có trình độ hiểu biết cao. 12 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. Trong các loại TNDL nói trên thì LNTT là một loại TNDL nhân văn quan trọng, đã hình thành và phát triển từ lâu, có sức lôi cuốn một lượng lớn du khách.
Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch (SPDL) là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. SPDL được cấu thành từ những bộ phận như các dịch vụ, TNDL…bao gồm: - SPDL đặc trưng: là những sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, tạo ra mục đích của khách du lịch tại điểm đến như: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa, nơi nghỉ mát, chữa bệnh, thăm quan. - SPDL cần thiết: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong quá trình đi du lịch như: phương tiện vận chuyển, ăn, nghỉ. - SPDL bổ sung: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu phát sinh trong quá trình đi du lịch như: cắt tóc, giặt là, massage, mua sắm hàng lưu niệm.
Các dịch vụ được sử dụng trong SPDL là: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ giải trí, dịch vụ mua sắm. Ngoài ra còn có các dịch vụ trung gian như : dịch vụ thu gom, sắp xếp các dịch vụ lẻ thành một SPDL; dịch vụ bán lẻ sản phẩm… 1. Làng nghề Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo kiểu nghề nghiệp, tạo thành các phường hội như Phường gốm, Phường đúc đồng, Phường dệt vải…Từ đó, các nghề được lan truyền và phát triển thành các làng nghề. Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, văn minh dân tộc.
Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của TTCN ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng. Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy ước như: không truyền nghề cho người làng khác, không truyền nghề cho con gái, hoặc uống rượu ăn thề không để lộ bí quyết…Trải qua một thời gian dài lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được 13 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107.
lưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời. Vì vậy, quan niệm về làng nghề cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Từ những cách tiếp cận của các tác giả về khái niệm làng nghề, chúng ta có thể thấy làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Vào thời gian trước đây, khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, còn ngày nay với xu hướng trên thế giới khu vực kinh tế thứ ba đóng vai trò quan trọng và trở thành chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng thì các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được xếp vào các làng nghề.
Vậy, làng nghề là gì? Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [27, tr. - Làng nghề bao gồm các loại sau: + Làng một nghề: làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ hoặc không đáng kể. + Làng nhiều nghề là những làng nghề xuất hiện và tồn tại nhiều nghề, có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần tương đương nhau.
+ LNTT: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay. + Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các LNTT hoặc được du nhập từ các địa phương khác trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường. Làng nghề truyền thống Có nhiều quan niệm khác nhau về LNTT: Quan niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cư cư trú trong một phạm vi địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm này mới thể hiện được yếu tố 14 Footer Page 18 of 107.
Header Page 19 of 107. truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng nghề mới, những tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa được đề cập đến. Quan niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ.