CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP. NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TE 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE DAU TU TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm - Theo quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) (1993): Đầu tư trực tiếp nước ngoài ám chỉ số đầu tư được thực hiện để thu hút lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý doanh nghiệp đó [28]; - Theo Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu (OECD): Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (1) thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chỉ nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, (2) mua lại toàn bộ doanh nghiệp đó, (3) tham gia vào một doanh nghiệp mới, (4) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm) [33]; - Theo luật đầu tư Việt Nam (2005): Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư [9] - Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về FDI, song ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là: “Đẩu /r trực tiếp nước ngoài là sự di chuyến vốn thông qua việc nhà đầu tr ở một 12 nước đưa vốn vào một nước khác đề đầu tư, đồng thời trực tiếp quản lý, điều hành tổ chức sản xuất, kinh doanh,. nhằm mục đích thu lợi ích lâu dài. Đặc điểm - Chủ đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư trên nước sở tại nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, hình thức đầu tư này thường mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.
- Tỷ lệ vốn tối thiểu hay vốn pháp định của nhà đầu tư trong các dự án đầu tư tại nước sở tại được quy định trong luật Đầu tư của mỗi nước. Tại Việt Nam, luật Đầu tư 2014 không quy định mức vốn tối thiểu đối với nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ này được quy định trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ! và một số luật chuyên ngành khác. Một số nước quy định là 20-25%, nhiều nước phát triển như Hoa Kỹ quy định 10%, thậm chí có nước chỉ quy định có 5% như Nam Tư. ~ Sự phân chia quyền quản lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức đóng góp vốn.
Nếu chủ đầu tư góp 100% vốn trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do họ quản lý toàn bộ. - Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần - Hành vi thực hiện FDI có thể khác nhau như: đầu tư thành lập doanh nghiệp mới, mở rộng các doanh nghiệp FDI sẵn có, mua cô phiếu của doanh nghiệp nội địa vượt quá giới hạn phân định FDI với đầu tư mua cỗ phiếu thông, cho vay dài hạn kèm theo các điều kiện kiểm soát. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh ` Biểu cam kết cụ thể về địch vụ là kết quả đảm phần giữa CHXHCN Việt Nam với các thành viên WTO và là phụ lục của Nghị định thư gia nhập của CHXHCN Việt Nam. 13 nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả hai bên đầu tư và nhận đầu tư.
Như vậy, FDI là một kênh đầu tư nước ngoài thuộc nhóm đầu tư tư nhân. FDI có thể được thực hiện thông quá bỏ vốn tài chính hoặc phí tài chính để thành lập một doanh nghiệp nới hoặc mua lại những doanh nghiệp đang hoạt động. Hình thức trách nhiệm pháp lý cảu các doanh nghiệp FDI tùy theo từng. nước quy định, nhưng thông tường là hai hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần.
Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Tác động tích cực Đối với nước đầu t - Chủ đầu tư có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thé đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Do đó, vốn đầu tư thường. được sử dụng với hiệu quả cao; - Giúp chủ đầu tư nước ngoài tránh được hàng rảo bảo hộ mậu dịch và chiếm lĩnh thị trường nước sở tại; - Chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được chỉ phí, hạ giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn nguyên liệu và lao động với giá cả thấp của nước sở tại.
Vì vậy, thông qua thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ đầu tư có thé nang cao được khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới. Đối với nước nhận đầu tư: - Tạo điều kiện cho nước sở tại có thể tiếp thu được kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và tác phong làm việc tiên tiến của nước. ngoài; ~ Giúp cho nước sở tại khai thác một cách có hiệu quả nguồn lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn trong nước, từ đó góp phần mở. rộng tích lũy và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế 14 b.
Tác động tiêu cực Đối với nước đầu tư: - Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ về môi trường đầu từ của nước sở tại; ~ Có thể xảy ra tình trạng chảy máu chất xám nếu chủ đầu tư nước ngoài dé mất bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình chuyển giao. Đối với nước nhận đầu tư: ~ Nước sở tại khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và theo lãnh thô. Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thê và khoa học, dé din dén hiện tượng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng; ~ Nếu không thẩm định kỹ sẽ dẫn đến sự du nhập của các loại công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường với giá đắt làm thiệt hại lợi ích của nước sở tại 12. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TÁC ĐỘNG CUA FDI DEN TANG TRƯỞNG KINH TẾ 1.
Lý thuyết về tác ông của FDI đến tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế được thiết lập để giải thích tăng trưởng, kinh tế toàn cầu, là các thức đề tìm ra các yếu tố tạo nên tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua việc cung cấp các mô hình, giải thích kết quả và đưa ra dự đoán. Đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. nhằm xác định các yếu tố thúc đây tăng trưởng kinh tế nhưng trong phạm vi của luận văn, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các lý thuyết đánh giá sự tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở nước nhận đầu tư. Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điểm hay còn gọi là lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh.
Nền tảng của lý thuyết này dựa vào mô hình tăng truéng Solow 15 (1956). Theo lý thuyết này, tăng trưởng kinh tế được tạo bởi các yếu tố ngoại sinh như tích lũy vốn và lao động. Điều này có được là nhờ FDI làm gia tăng vốn ở nước sở tại và sau đó thúc đây kinh tế tăng trưởng hướng tới trạng thái ổn định mới bằng cách tích tụ vốn. Theo lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh thì FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến đầu tư trong nước (Herzer et al, 2008).
Tuy nhiên, vào những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh không phù hợp để giải thích các yếu tố tác động đến tăng trưởng trong dài hạn, lý thuyết tăng trưởng nội sinh hình thành từ thời điểm đó và tiên phong là Romer (1986). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh xác định tăng trưởng kinh tế bằng việc giới thiệu quy trình sản xuất công nghệ mới ở nước sở tại và FDI được giả định là hiệu quả hơn đầu tư trong nước. Do đó, FDI tăng cường tăng. trưởng kinh tế thông qua sự lan tỏa công nghệ, dịch chuyển lao động, đào tạo.
kỹ năng quản lý và sắp xếp tổ chức. Kết quả là, đầu tư nước ngoài có thể làm tăng năng suất nền kinh tế chủ nhà và sau đó FDI có thể được coi như chất xúc tác của đầu tư trong nước và tiền bộ công nghệ Vi vay, về mặt lý thuyết có thể nói rằng FDI tác động đến tăng trưởng, kinh tế thông qua việc tăng tích lũy vốn, lan tỏa công nghệ và sự tiến ộ. Từ do cho tha „ FDI có thể góp phần vào phát triển kinh tế và nhân tố tiềm nang cho phat triển kinh tí nước nhận đầu tư. Các kênh tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau.
Theo cách tiếp cận hẹp, FDI tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế thông. qua kênh đầu tư và tác động gián tiếp thông qua các tác động tràn. Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộc nước tiếp nhận đầu tư phải cải thiện môi trường đầu tư nhằm giảm chỉ phí giao dịch và tăng hiệu suất của vốn và cuối cùng là tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, FDI còn làm tăng.
16 đầu tư trong nước thông qua việc cung cấp nguyên nhiên liệu cho các doanh nghiệp FDI hoặc tiêu thụ sản phẩm từ các doanh nghiệp FDI Ngoài các tác động tích cực, FDI cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực như việc xuất hiện nhiều doanh nghiệp FDI có thể gây cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nước và phần thua thiệt thuộc về các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước bị mắt thị trường, mất lao. động có kỹ năng và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản.