CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về làng nghề Việt Nam 1. Khái niệm làng nghề Làng nghề truyền thống Việt Nam được cho là một gương mặt khác của làng xã nông nghiệp, và là một bộ phận không thể tách rời, thậm chí phát triển song hành cùng làng xã của người Việt. Sự ra đời và quá trình phát triển của làng nghề đã mang lại rất nhiều giá trị to lớn, từ sinh hoạt đời sống cho đến kinh tế lao động mà hơn hết còn lưu giữ được những nét tinh hoa văn hoá dân tộc bao thế kỷ nay.
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Do điều kiện vị trí địa lý khác nhau nên sự phân bố của làng nghề trong các vùng là khác nhau. Trên cả nước làng nghề chủ yếu tập trung tại đồng bằng sông Hồng 60%, miền Trung 30% và miền Nam là 10% (Bộ tài nguyên và môi trường, 2011) Trong những năm qua, làng nghề nước ta cũng đang có tốc độ phát triển mạnh thông qua sự tăng trưởng về số lượng và loại hình ngành nghề sản xuất mới. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề có được vị thế trên thị trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những làng nghề mang tính chất thủ công, truyền thống còn có làng nghề mà thực chất là sự phát triển công nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn (Sở Công Thương Bắc Ninh, 2008). Phân loại làng nghề Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TN&MT Bắc Ninh, 2015). Trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề ở nước ta được phân loại theo các dạng 3 • Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới: Cách phân loại này thể hiện đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho cácvùng văn hóa lãnh thổ. Các nghề truyền thống như: gốm, đúc đồng, chạm khắc đá, mây tre đan, sơn mài, khảm trai, làm nón,… • Theo quy mô sản xuất: Nhằm xác định trình độ công nghệ và quản lý sản xuất tại các làng nghề, qua đó cóthể xem xét tới tiềm năng phát triển, đổi mới công nghệ sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
• Theo ngành sản xuất, loại hình sản xuất: Nhằm xác định nguồn và mức độ ưu tiêu thụ năng nguyên, nhiên liệu và phát sinh chất thải sản xuất của làng nghề. • Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Đây là cách phân loại phục vụ mục tiêu đánh giá đặc thù, quy mô các nguồn thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề. • Theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu: Nhằm xem xét đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên tại các làng nghề, tiến tới cóđược giải pháp quản lý và kỹ thuật trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử dụng cũng như hạn chế tới tác động môi trường. • Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển: Cách phân loại này xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề.
Mỗi hình thức làng nghề được phân loại dựa trên những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề , mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động 4 khác nhau đối với mỗi trường. Ta có thể phân làng nghề thành những loại sau: • Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới • Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm • Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ • Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm • Theo mức độ sử dụng nguyên/ nhiên liệu • Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính như sau: • Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ.
• Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da. • Làng nghề thủ công mỹ nghệ. • Làng nghề vật liệu xây dựng khai thác đá. • Làng nghề tái chế phế liệu.
• Các hình thức làng nghề khác. Phân loh thức làng nghề khác. chăn STT Danh mục làng nghề Số Tên sản phẩm chính làng 1 Sản xuất các sản phẩm từ tinh bột 08 Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem 2 Sản xuất rượu 02 Rượu 3 Dịch vụ vật tư 01 Vật tư tổng hợp Sản xuất đôg gỗ công cụ sản xuất, mộc 4 1 Cày bừa, hàng dân dụng đơn giản 5 Đúc nhôm 01 Nồi, xoong, chảo 6 Tơ tằm 02 Tơ tằm 7 Mộc cao cấp: giường, tủ 01 Giường, tủ, bàn ghế 8 Làm tranh dân gian giấy màu 01 Tranh dân gian giấy màu 9 Nuôi, ươm giồng thủy sản 01 Cá con 10 Chế biến thực phẩm từ rau củ quả 01 Đậu phụ 11 Sản xuất các sản phẩm từ tre, nứa, lá 07 Thúng, rổ, rá 12 Đúc và gia công đồng, nhôm 02 Đồng, gò, đúc, nhôm gò, đúc 13 Mộc dân dụng, cày, bừa 02 Giường, tủ, bàn ghế, cày, bừa 14 Thêu ren xuất khẩu 01 Thêu ren xuất khẩu 15 Đan lưới vó 01 Lưới màn 16 Nấu rượu 03 Rượu gạo 17 Vận tải thủy 01 Vận tải 18 Chế biến lương phẩm từ gạo 01 Mỳ gạo, bánh đa 19 Sản xuất đồ gốm 02 Chum, vại, chậu, âu, vò. 20 Sản xuất công cụ cầm tay bằng kim loại 01 Dao, kéo, liềm, cuốc, xẻng 21 Sản xuất giấy tái chế 02 Giấy các loại 22 Xây dựng 04 Xây dựng 23 Sản xuất sắt thép 02 Sắt thép các loại 24 Mộc dân dụng, mỹ nghệ 08 Đồ gỗ mỹ nghệ, giường, tủ, tranh khắc 25 Dệt 02 Màn, khăn mặt, khăn tay 26 Thương nghiệp 02 Thương nghiệp Tổng số 62 (Nguồn: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh 2015) 6 1.
Thực trạng và triển vọng phát triển công nghiệp giấy Việt Nam Mặc dù không phải là một trong những ngành công nghiệp trọng yếu, nắm giữ vị trí then chốt của nền kinh tế, song các sản phẩm đại diện của ngành giấy như: Bột giấy, giấy in, viết, tissue… lại là những sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người dân. Những năm gần đây ngành công nghiệp giấy tại Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh mẽ thông qua việc các doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về sản phẩm thân thiện với môi trường. Ngành đã tạo việc làm cho hàng vạn lao động, đồng hành phụ trợ cho nhiều ngành sản xuất và cộng hưởng để phát triển các ngành kinh tế khác. Đối với xã hội, ngành giấy hiện đang cung cấp nhiều sản phẩm với mục đích đa dạng: Hoạt động văn hoá xã hội, hoạt động giáo dục hay hoạt động sản xuất, nghiên cứu và cung cấp nhiều sản phẩm cho người tiêu dùng.
Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông kỹ thuật số đã dẫn đến sụt giảm nhu cầu sử dụng giấy in báo, nhưng cũng mang đến sự tăng trưởng mạnh mẽ ở phân khúc giấy bao bì, hộp giấy (do là sản phẩm phụ trợ của nhiều sản phẩm, phục vụ việc bán hàng online và giao hàng trực tiếp). Bên cạnh đó, những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu của nước ta tăng trưởng cao cũng đã và đang kéo theo sự gia tăng mạnh về nhu cầu giấy làm bao bì, đặc biệt là đối với các ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao như dệt may, da giày, thủy sản, linh kiện, thiết bị điện tử. Số liệu thống kê cho thấy, trong những năm gần đây, ngành Giấy Việt Nam có tốc độ phát triển trung bình khoảng 10-12%/năm, riêng giấy bao bì khoảng 15-17%/năm, trong lĩnh vực này đã có những dự án đầu tư công suất lớn đang hoạt động (400-500 nghìn tấn/năm); một số doanh nghiệp đang dự kiến đầu tư dự án có công suất trên 1 triệu tấn giấy bao bì/năm. Với nhu cầu gia tăng mạnh và vai trò đa dạng đối với kinh tế, sản xuất của ngành giấy đóng góp khoảng 1,5% giá trị GDP, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD.
7 Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA), năm 2019 tiêu dùng bao bì giấy trong nước ước tính đạt 4,2 triệu tấn, xuất khẩu đạt 0,8 triệu tấn. Trong 3 năm gần đây, xuất khẩu giấy của Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng ấn tượng trên 200%/năm.7 tháng đầu năm 2020, tổng sản lượng giấy sản xuất ước tính đạt hơn 2,79 triệu tấn, tăng 12,2% (trong đó: Giấy bao bì chiếm tỷ trọng lớn 97,8%, sản lượng đạt 2,73 triệu tấn, tăng 13,5%; Giấy tissue, sản lượng đạt 165 nghìn tấn, tăng 33,3%; Giấy in - viết, sản lượng đạt 169 nghìn tấn, giảm 11,4%). Do ảnh hưởng của dịch Covid -19 và các biện pháp dãn cách xã hội, các hoạt động kinh tế - xã hội bị đứt gãy, ảnh hưởng đến sức tiêu thụ của nền kinh tế nói chung, ngành Giấy nói riêng. Tổng khối lượng tiêu dùng trong 7 tháng đầu năm 2020 đạt hơn 2,99 triệu tấn và giảm 2,45% so với cùng kỳ năm 2019.
Trong đó: Giấy bao bì tiêu dùng đạt 2,34 triệu tấn, giảm 2,1%; Giấy in báo tiêu dùng đạt 21,24 nghìn tấn, giảm 26,7; Giấy in, viết, tiêu dùng đạt 368,4 nghìn tấn, giảm 8,5%; Tổng lượng giấy tiêu dùng giảm trong những tháng đầu năm 2020 vừa qua phần lớn là do tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19.Tổng khối lượng giấy xuất khẩu trong 7 tháng năm 2020 đạt 933,2 nghìn tấn, tăng 100,6%, so với cùng kỳ năm 2019. Giấy bao bì, giấy tissue xuất khẩu tăng trưởng mạnh, trong khi đó giấy in, viết, giấy vàng mã giảm. Trong đó, giấy bao bì, xuất khẩu đạt 859 nghìn tấn, tăng 46,5% so với cùng kỳ năm 2019. Hiện Việt Nam xuất khẩu giấy bao bì đến 33 quốc gia và 5 châu lục, trong đó châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất 98,9%, kế đến là châu Phi 0,5%, châu Úc là 0,4%, châu Mỹ và châu Âu chiếm tỷ lệ 0,2%.
Tổng khối lượng giấy nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2020 đạt hơn 1,11 triệu tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ 2019.