CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT THỦY VĂN - ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH KHU VỰC NGHIÊN CỨU. Vị trí địa lý tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý tự nhiên [7] Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km. Vị trí giáp giới như sau: - Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.
- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. - Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh. - Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Đoạn sông Tiền Đoạn sông Cổ Chiên Hình 1.
Khu vực nghiên cứu (ảnh Google Earth 2012) 3 Khu vực nghiên cứu là đoạn sông Tiền – sông Cổ Chiên thuộc thành phố Vĩnh Long và huyện Long Hồ. Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Đông giáp tỉnh Bến Tre, phía Nam giáp Thành phố Vĩnh Long, được giới hạn tọa độ địa lý VN2000 (Bản đồ qui hoạch thăm dò, khái thác và sử dụng cát lòng sông Tiền, sông Cổ Chiên, sông Pang Tra tỉnh Vĩnh Long, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành lập năm 2009) như sau: - Từ 1132000 đến 1144000 vĩ độ Bắc; - Từ 542000 đến 558000 kinh độ Đông. Tổng chiều dài nghiên cứu ước tính 24km (nhánh trái sông Tiền 12km, nhánh phải sông Tiền – sông Cổ Chiên 12km). Đặc điểm dân cư, kinh tế 1.
Dân cư Theo số liệu thống kê dân số trung bình tỉnh Vĩnh Long năm 2010 là 1031994 người. Mật độ dân số trung bình là 698 người/km2, đứng thứ 2 ở đồng bằng sông Cửu Long sau thành phố Cần Thơ, gấp 1,7 lần mật độ trung bình của đồng bằng sông Cửu Long và 2,8 lần mật độ trung bình cả nước. Trừ thành phố Vĩnh Long, mật độ dân số phân bố tương đối đồng đều giữa các huyện trong tỉnh, thấp nhất là huyện Trà Ôn có mật độ 566 người/km2, bằng 82% mật độ của huyện cao nhất là Long Hồ với 780 người/km2. Vĩnh Long cũng như nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có cơ cấu đa dân tộc.
Ngoài người Kinh, các dân tộc khác khoảng 2,7% dân số toàn tỉnh, trong đó người Khơmer chiếm gần 2,1% tập trung ở một số xã vùng xa thuộc các huyện Tam Bình, Vũng Liêm, Bình Minh, Trà Ôn, người Hoa và các dân tộc khác khoảng 0,6% tập trung ở thành phố và các thị trấn. Kinh tế - xã hội từ năm 2009 đến 2012 Thông qua báo cáo “Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh” từ năm 2009 đến tháng 9/2012 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long, trong bối cảnh kinh tế thế giới bị khủng hoảng diễn biến phức tạp, kinh tế trong nước nói chung, tỉnh Vĩnh Long nói riêng gặp rất nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng khá và toàn diện trên các lĩnh vực. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh theo Nghị quyết của Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long từ năm 2009 đến tháng 9/2012. a) Các chỉ tiêu về kinh tế: 2009 2010 2011 2012 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng (%) 9,12 11,42 10,02 11,5 Giá trị sản xuất nông - lâm, ngư nghiệp tăng (%) 5,54 5,48 3,58 5 + Trong đó: Nông nghiệp tăng (%) 5,09 4,76 3,84 4,7 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng (%) 12,15 21,08 20,17 22 Giá trị các ngành dịch vụ tăng (%) 10,60 12,52 11,91 13 GDP bình quân đầu người (Tr.
Đặc điểm khí hậu [7] Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 - 28oC, so với thời kỳ trước năm 1996 nhiệt độ trung bình cả năm cao hơn khoảng 0,5 - 1oC. Nhiệt độ tối cao 36,9oC; nhiệt độ tối thấp 17,7oC. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7 - 8oC.
Bức xạ Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ. Bức xạ quang hợp/năm 795. Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2. Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ.
Độ ẩm Độ ẩm không khí bình quân 74 - 83%, trong đó độ ẩm bình quân thấp nhất 74,7%; độ ẩm không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng 10 giá trị đạt trung bình 86 - 87% và những tháng thấp nhất là tháng 3 độ ẩm trung bình 75 - 79%. Lượng bốc hơi Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.500 mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/ tháng vào mùa khô là 116 - 179 mm/tháng. Lượng mưa và sự phân bố mưa Lượng mưa bình quân qua các năm từ 1995 đến 2001 có sự chênh lệch khá lớn. Tổng lượng mưa bình quân cao nhất trong năm là 1893,1 mm/năm (năm 2000) và thấp nhất 1237,6 mm/năm điều này cho thấy có sự thay đổi thất thường về thời tiết.
Do đó ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi các đặc trưng của đất đai cũng như điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, lượng mưa hàng năm của tỉnh phân bố tập trung vào tháng 5 - 11 dương lịch, chủ yếu vào tháng 8 - 10 dương lịch. Gió Tỉnh Vĩnh Long có 3 hướng gió chính trong năm với vận tốc trung bình 2,4 – 2,8 m/s gồm: - Hướng gió Tây – Tây Nam hoạt động từ tháng 5 – 10. - Hướng gió Đông Bắc (gió chướng) hoạt động từ tháng 11 – 01 năm sau.
- Hướng gió Đông Nam hoạt động từ tháng 2 – 4. Thống kê tốc độ gió trung bình tháng tại Vĩnh Long Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tốc độ gió 2,5 3 3 2,5 3,5 3 2,8 2,5 2,3 2,3 2,1 2,4 TB (m/s) Tốc độ gió 10,5 10 10 12,5 13 15,5 12 16 15 10,5 8 9,5 max (m/s) Tài liệu tham khảo [7] 1. Đặc điểm giao thông [7] Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Măng Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ TP. Hồ Chí Minh xuống các vùng Tây Nam sông Hậu), 1.
Đường bộ Bao gồm 10 tuyến đường chính với tổng chiều dài 260km trong đó có 5 tuyến quốc lộ (1, 53, 54, 57, 80) và 5 tuyến tỉnh lộ (902, 903, 904, 905, 906). Quốc lộ 1 chạy trên địa bàn tỉnh 39km qua trung tâm thị xã Vĩnh Long là đoạn đường huyết 7 mạch cho phương tiện vận tải từ TP. Hồ Chí Minh đi TP. Cần Thơ và lưu thông với các tỉnh khu vực miền Tây.
Đường thủy Vĩnh Long có ưu thế về giao thông thủy bởi Sông Hậu, sông Cổ Chiên và mạng lưới kênh rạch chằng chịt giao lưu với nhiều địa phương và các tỉnh khác. Đặc biệt, tuyến đường Trà Ôn - Măng Thít nối các tỉnh miền Tây với TP. Hồ Chí Minh là tuyến giao thông huyết mạch có ý nghĩa lớn đối với giao thông thủy trong tỉnh. Cảng Cảng Vĩnh Long có năng lực trao đổi hàng hóa 200000 tấn/năm và tàu tải trọng từ 2000 đến 3500 tấn cập bến dễ dàng.
Cảng Vĩnh Thái, bên bờ sông Cổ Chiên thuộc địa phận TP. Vĩnh Long có hệ thống kho chứa trên 20.000 tấn, tàu trên 2.000 tấn có thể ra vào hoạt động tại cảng. Ngoài ra Vĩnh Long đang triển khai xây dựng cảng Bình Minh thuộc huyện Bình Minh trên sông Hậu. Địa hình địa mạo [7] Đặc điểm địa hình địa mạo đáy lòng sông khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bản đồ địa hình đáy sông (bản vẽ: 01).
Đặc điểm hình thái dòng sông 1. Hình thái lòng sông trên mặt bằng Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long nói chung, tỉnh Vĩnh Long nói riêng là vùng đồng bằng trẻ, rộng, bằng phẳng, độ cao bề mặt địa hình khu vực từ 0,8 – 2,0m, độ dốc đồng bằng 0,01%. Bên cạnh sông Tiền, sông Cổ Chiên, sông Hậu là mạng lưới các sông rạch nhỏ, chằng chịt lưu thông với nhau, hệ số phân cắt 3,5km/km2. Thống kê hệ số uốn của sông trong khu vực nghiên cứu Tên sông Hệ số cong = ( ) Sông Cổ Chiên 1,02-1,08 Sông Tiền 1,03-1,3 Tài liệu tham khảo [7] 8 1.
Hình thái trên mặt cắt ngang Do ảnh hưởng của cấu trúc địa chất chủ yếu là thành tạo trầm tích bở rời chịu sự chi phối của hoạt động dòng chảy sông phức tạp, các hoạt động sụp lở bồi lắng luôn diễn ra làm mặt cắt ngang sông thường xuyên thay đổi. Qua tài liệu đo hồi âm đáy sông cho thấy mặt cắt ngang sông có dạng hình chữ U hoặc chữ V lệch, hầu hết vách sông thẳng đứng. Trên những đoạn sông có chiều rộng sông thu hẹp, đáy sông bị đào sâu. Tại các đoạn này sông uốn khúc và đáy sâu nhất nằm lệch về phía bờ lõm khúc cong tạo vách sông thẳng đứng, dưới tác dụng của dòng chảy nhất là vào mùa lũ dễ tạo hàm ếch gây sụp lở.
Đối diện với bờ lõm là bờ sông lồi đáy sông thoải và tạo các doi bùn, cát ngầm thấp ngập nước, theo thời gian các doi bùn, cát ngầm này phát triển mở rộng làm cho dòng chảy sông dồn ép phía bờ đối diện và tiếp tục gây sạt lở. Trên những đoạn sông chiều rộng tăng lên > 1000-1200m chiều sâu đáy sông giảm dần, hình dạng mặt cắt ngang sông thường có doi bùn, cát ngầm ở giữa và hai bên sát bờ đáy sông khoét sâu tạo bờ sông hai vách thẳng đứng hoặc một vách thoải một vách đứng. Địa hình thành tạo nguồn gốc sông. Bãi bồi thấp ven sông rạch tuổi aQIV32 Phát triển dọc theo sông Tiền, sông Cổ Chiên, sông Hậu và các sông, rạch.
Các bãi bồi này bị ngập nước thường xuyên, chiều rộng trung bình 50-200m, độ cao tuyệt đối từ 0,5-1,0m, tạo thành các dải hơi nhô cao ven sông rạch. Cấu tạo bãi bồi thấp gồm bột sét lẫn sạn, cát, mùn thực vật. Trên bề mặt bãi bồi thường mọc các loại cây bần, điên điển, lục bình. Hiện nay một số bãi bồi đã được cải tạo thành nơi cư trú (nhà ở) và vườn cây ăn quả của nhân dân địa phương.
Bãi bồi cao tuổi aQIV 31 Gặp ven sông Cổ Chiên, sông Tiền thuộc khu vực phía Đông bến phà Mỹ Thuận. Độ cao tuyệt đối của bãi bồi cao là 1-1,2m. Bãi bồi cao có cấu tạo từ bột sét màu xám đen chuyển xuống xám nâu, sét dẻo dễ tạo hình.