Đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải từ hoạt động sản xuất nông sản tại đồng bằng sông Hồng

Tài liệu nghiên cứu Luận án đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất tại làng nghề chế, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2015

210
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Danh mục bảng

Danh mục sơ đồ

Danh mục đồ thị

Danh mục phụ lục

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU

1. Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Những khái niệm cơ bản

1.1. Khái niệm về làng nghề chế biến nông sản

1.2. Khái niệm về chất thải và tác động của chất thải tại các làng nghề

1.3. Khái niệm về thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh

1.4. Khái niệm về biện pháp quản lý môi trường làng nghề

1.2. Cơ sở lý luận về đánh giá thiệt hại kinh tế

1.1. Cơ sở khoa học xác định các thiệt hại kinh tế

1.2. Một số quan điểm về đánh giá thiệt hại kinh tế

1.3. Các phương pháp phổ biến trong đánh giá thiệt hại kinh tế

1.3. Thực tiễn vận dụng các phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế

1.1. Trên thế giới

1.2. Tại Việt Nam

1.4. Bài học kinh nghiệm

1.5. Lựa chọn phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế phù hợp với làng nghề

1.6. Lựa chọn phương pháp xác định các biện pháp quản lý thiệt hại kinh tế

2. Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khái quát chung hoạt động sản xuất làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng

2.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội

2.2. Hoạt động sản xuất làng nghề chế biến nông sản

2.3. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế nông thôn

2.4. Những vấn đề phát sinh từ hoạt động sản xuất tại làng nghề

2.2. Phương pháp tiếp cận

2.1. Tiếp cận kế thừa

2.2. Tiếp cận có sự tham gia

2.3. Tiếp cận hệ thống

2.4. Tiếp cận theo vùng phân bố làng nghề

2.5. Tiếp cận theo lĩnh vực hoạt động của làng nghề

2.6. Xác định khung logic trong đánh giá thiệt hại kinh tế ở làng nghề

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Phương pháp và kết quả chọn điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu thập số liệu

2.3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng môi trường

2.4. Phương pháp tính toán các chỉ tiêu thiệt hại kinh tế

3. Chương 3. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG, THIỆT HẠI KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ TẠI LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

3.1. Hiện trạng chất lượng môi trường ở các làng nghề chế biến nông sản

3.1. Sơ lược về xu hướng biến đổi chất lượng môi trường ở làng nghề

3.2. Kết quả phân tích chất lượng môi trường tại làng nghề chế biến nông sản

3.2. Thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh tại làng nghề chế biến nông sản

3.1. Thiệt hại kinh tế do suy giảm sản lượng nông nghiệp và thủy sản

3.2. Thiệt hại kinh tế thay thế, sửa chữa cơ sở hạ tầng và xử lý chất thải

3.3. Thiệt hại kinh tế suy giảm sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường

3.4. Thiệt hại kinh tế do ngăn ngừa, giảm nhẹ tác động của ô nhiễm môi trường ở làng nghề

3.5. Thiệt hại kinh tế do chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên để giải quyết chất thải phát sinh ở các làng nghề

3.6. Tổng thiệt hại kinh tế do phát sinh chất thải từ hoạt động sản xuất nghề ở làng nghề

3.3. Thực trạng triển khai chính sách quản lý giảm thiểu thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh ở làng nghề

3.1. Hiện trạng xây dựng các chính sách quản lý chung về làng nghề

3.2. Thực tiễn triển khai chính sách trong quản lý môi trường ở các làng nghề

4. Chương 4. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIẢM THIỂU THIỆT HẠI KINH TẾ DO CHẤT THẢI PHÁT SINH TẠI LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

4.1. Quan điểm và định hướng giải pháp

4.2. Định hướng giải pháp

4.1. Giải pháp kiểm soát chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở làng nghề

4.2. Giải pháp kiểm soát thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở làng nghề

4.3. Giải pháp về cơ chế chính sách

4.4. Giải pháp về tổ chức quản lý

4.5. Giải pháp về thông tin, tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức và năng lực bảo vệ môi trường ở các làng nghề

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Kiến nghị

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

Tiếng Anh

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động sản xuất làng nghề tại vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản phát sinh từ hoạt động này đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Theo thống kê, có 1.669 làng nghề tại ĐBSH, trong đó 805 làng nghề chế biến nông sản. Hoạt động này không chỉ tạo ra việc làm mà còn gây ra nhiều tác động môi trường tiêu cực. Chất thải từ sản xuất nông sản đã làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và giảm năng suất cây trồng. Đánh giá thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản là cần thiết để có biện pháp quản lý hiệu quả.

II. Những vấn đề nghiên cứu đặt ra cần giải quyết

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tác động kinh tế của hoạt động sản xuất làng nghề, nhưng việc đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải nông sản vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào hiện trạng và nguyên nhân mà chưa đi sâu vào đánh giá thiệt hại. Cần có các nghiên cứu chuyên sâu để xác định các loại hình thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp. Việc này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo phát triển bền vững cho các làng nghề tại ĐBSH.

III. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản tại các làng nghề ở ĐBSH. Nghiên cứu sẽ phân tích các tác động tiêu cực của chất thải nông sản đến môi trường và kinh tế, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả. Đặc biệt, nghiên cứu sẽ tập trung vào việc xác định các chỉ tiêu thiệt hại kinh tế và các phương pháp đánh giá phù hợp. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các cơ quan quản lý trong việc xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các làng nghề chế biến nông sản tại vùng ĐBSH, bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình. Phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung vào việc đánh giá thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản phát sinh trong quá trình sản xuất. Nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp phân tích định lượng và định tính để thu thập dữ liệu và đánh giá tác động của chất thải nông sản đến kinh tế và môi trường. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại và đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả.

V. Những đóng góp mới của luận án

Luận án sẽ đóng góp vào việc hiểu biết về thiệt hại kinh tế từ chất thải nông sản tại các làng nghề ở ĐBSH. Nghiên cứu sẽ cung cấp các phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế phù hợp với đặc thù của các làng nghề. Đồng thời, luận án cũng sẽ đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu thiệt hại kinh tế và bảo vệ môi trường. Những đóng góp này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có tính ứng dụng cao trong thực tiễn quản lý môi trường tại các làng nghề.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về làng nghề chế biến nông sản Kết quả tổng quan cho thấy các nghiên cứu về lịch sử hình thành làng nghề còn ít nhưng thực tế làng nghề đã tồn tại và có lịch sử lâu đời ở nước ta nói chung và ĐBSH nói riêng. Theo đánh giá từ các nguồn tư liệu, trong giai đoạn đầu, làng nghề CBNS được hình thành và phát triển theo quy mô hộ gia đình để tăng giá trị các sản phẩm nông nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường.

Dần rà, dựa trên mức độ sẵn có về nguyên liệu, nhu cầu thị trường và giá trị kinh tế mang lại, hoạt động chế biến nông sản được mở rộng với nhiều hộ tham gia, từ đó hình thành lên các cụm hộ làm nghề rồi phát triển thành làng nghề. Lê Quốc Doanh và cs. (2003) đã khái niệm về làng nghề "là tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của cộng đồng". Đinh Xuân Nghiêm và cs.

(2010) lại đưa ra ba quan niệm về làng nghề và dựa trên các quan niệm này đã đưa ra khái niệm làng nghề "là một thiết chế kinh tế xã hội, một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng". Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) đưa ra khái niệm làng nghề "là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau". Các làng nghề được công nhận phải đảm bảo được các tiêu chí về số hộ tham gia sản xuất tối thiểu 30% số hộ của thôn tham gia; có sự ổn định của lĩnh vực sản xuất kinh doanh điển hình theo tên gọi làng nghề tối thiểu 2 năm và chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước về làng nghề. 7 Dựa trên kết quả tổng quan, chúng tôi đưa ra khái niệm về làng nghề CBNS như sau: “Làng nghề CBNS là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn cùng sản xuất một hoặc một số sản phẩm liên quan đến hoạt động CBNS, có tính đặc thù cao về tính chất sản phẩm và cơ cấu thu nhập trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”.

Khái niệm này sẽ được sử dụng để triển khai các nội dung nghiên cứu về đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ làng nghề CBNS trong đề tài này. Khái niệm về chất thải và tác động của chất thải tại các làng nghề 1. Chất thải phát sinh từ làng nghề chế biến nông sản Hoạt động sản xuất dù ở quy mô nhỏ đến lớn, đơn giản đến phức tạp khi đã sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất ra một sản phẩm khác đều có khả năng gây phát sinh chất thải. Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đưa tra định nghĩa rằng chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác của sản xuất và tiêu dùng (Quốc hội, 2005).

Do tính chất và đặc điểm tiêu dùng của chất thải mà có thể phân loại chất thải khác nhau như (i) dựa trên đặc tính về dạng vật chất, chất thải ở các làng nghề được chia thành chất thải rắn (xỉ than, vỏ sắn, vỏ dong riềng, bã bột gạo, bã dong, bã sắn,.); chất thải lỏng (nước rửa củ sắn, củ dong, nước lọc bột, nước ngâm gạo,.) và chất thải khí (khí than, bụi, mùi,.); (ii) dựa trên mức độ nguy hiểm của chất ô nhiễm trong chất thải để phân loại chất thải thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại; và (iii) dựa trên khả năng tái sử dụng chất thải để chia thành chất thải có thể tái chế và chất thải không thể tái chế. Dựa trên các quan điểm trên, chất thải làng nghề CBNS là vật chất được thải ra từ hoạt động sản xuất nghề tại làng nghề CBNS và tồn tại ở các dạng chất thải rắn, chất thải lỏng và khí thải. Về cơ bản, chất thải từ hoạt động sản xuất CBNS cũng được phân loại như các chất thải khác gồm chất thải rắn, lỏng và khí, chất thải thông thường và một phần chất thải nguy hại; chất thải có thể tái chế (phổ biến) và chất thải không thể tái chế (do lẫn các tạp chất và chất thải nguy hại). Cũng như chất thải từ hoạt động sản xuất khác, chất thải từ hoạt động chế biến nông sản khi thải ra môi trường sẽ gây tác động tiêu cực đến các thành phần 8 môi trường, khi các chất gây ô nhiễm có trong chất thải từ làng nghề tích tụ và vượt quá ngưỡng cho phép sẽ gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, làm thay đổi thành phần và tính hữu ích của môi trường, gây thiệt hại kinh tế cho các đối tượng chịu chi phối của thành phần môi trường đó.

Khái niệm về tác động và đánh giá tác động môi trường do chất thải phát sinh Chất thải phát sinh không được thu gom và xử lý kịp thời, vượt quá sức tải của môi trường sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Đối với các làng nghề CBNS, nguyên liệu chính là sản phẩm nông sản (củ dong, củ sắn, gạo,.) để tạo ra sản phẩm tiêu dùng như miến dong, bột sắn, bột dong, bún, bánh đa, rượu và phát sinh các loại chất thải gồm vỏ dong, vỏ sắn, đất cát, nước lẫn bã dong, bã sắn, tạp chất, hóa chất, xỉ than. Các chất thải này khi phát sinh sẽ bị phân hủy theo thời gian và tác động đến các thành môi trường. Tác động phát sinh từ chất thải phát sinh tại làng nghề là những tác động làm thay đổi chất lượng và chức năng của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí) ở làng nghề và vùng phụ cận làng nghề.

Dựa vào xu hướng của tác động để phân thành tác động tiêu cực và tích cực, nhưng chủ yếu là tác động tiêu cực. Dựa vào mức độ lan tỏa của các động người ta phân thành tác động tại chỗ và tác động lan truyền. Các tác động từ phát sinh chất thải, gây ô nhiễm môi trường ở làng nghề CBNS bao gồm các ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và nhiều hoạt động khác của dân cư tại làng nghề và các khu vực phụ cận làng nghề (Phụ lục 1). Hoạt động đánh giá tác động môi trường ở làng nghề sẽ cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà chính sách ra các quyết định phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững sản xuất ở làng nghề.

Đánh giá tác động được hiểu là việc phân tích diễn biến, xác định và dự báo tác động đến môi trường từ các hoạt động sản xuất để xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường kịp thời. Lượng hóa tác động hay thiệt hại kinh tế là tính toán các tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường đến các đối tượng bị ảnh hưởng. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008b), các tác động môi trường ở các làng nghề CBNS chủ yếu suy giảm năng suất, sản lượng cây trồng, năng suất 9 và sản lượng thủy sản, suy giảm sức khỏe như gia tăng các bệnh ngoài da, viêm niêm mạc, nấm móng, dầy sừng gan bàn chân, viêm chân tóc, viêm nang lông cho cư dân làng nghề và cư dân ở khu vực phụ cận làng nghề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008b). Khái niệm về thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh Trong một số điều ước quốc tế có liên quan, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường được xác định bao gồm thiệt hại về hệ động vật, thực vật, đất, nước và các yếu tố khí hậu; thiệt hại về tài sản vật chất của các đối tượng và hoạt động có liên quan; thiệt hại về cảnh quan và xói mòn giá trị văn hóa; thiệt hại về mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố trên (Philip, 2003).

Tương tự, EUROPA (2004) quan niệm về thiệt hại môi trường là sự thay đổi bất lợi về tài nguyên thiên nhiên hoặc những cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể xảy ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và biểu hiện dưới dạng thiệt hại đối với các loài và môi trường sống tự nhiên của chúng; thiệt hại đối với môi trường nước, đất và không khí gây ra nguy cơ đáng kể cho sức khỏe con người. Luật bảo vệ môi trường của Liên bang Nga đã có định nghĩa rõ nét nhất về thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường gồm cả những giá trị thiệt hại về sức khỏe của cá nhân và cộng đồng do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ ô nhiễm môi trường. Nhật Bản đã phân chia thiệt hại kinh tế môi trường thành nhiều dạng bao gồm cả thiệt hại kinh tế đối với sức khỏe và tính mạng của con người; thiệt hại kinh tế về tài sản; thiệt hại kinh tế do suy giảm tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; thiệt hại kinh tế do mất hoặc giảm giá trị cảnh quan, giá trị văn hóa và mỹ quan (Cấn Anh Tuấn, 2011). Ngoài ra, Vũ Thu Hạnh và Nguyễn Văn Phương (2012) còn cho thấy tại Australia, ngoài những thiệt hại kinh tế kể trên, các thiệt hại lợi ích về văn hóa, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, giải trí (gọi chung là lợi ích phi vật chất) cũng được coi là thiệt hại kinh tế và cần được đánh giá.

Ở nước ta, mặc dù chưa xác định rõ, nhưng khái niệm về thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường được quy định một phần trong Điều 130 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 gồm: (i) Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi 10 trường; (ii) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải từ hoạt động sản xuất nông sản tại đồng bằng sông Hồng" của tác giả Trần Văn Thể, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Tuấn Sơn và TS. Nguyễn Nghĩa Biên, tập trung vào việc phân tích tác động kinh tế từ chất thải nông sản trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những thiệt hại mà còn đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ chất thải, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc cho độc giả về mối liên hệ giữa sản xuất nông sản và môi trường, đồng thời khuyến khích các nhà quản lý và doanh nghiệp tìm kiếm các phương pháp bền vững hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến quản lý hợp đồng trong xây dựng nông nghiệp, hay Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, cung cấp cái nhìn về quản lý dự án trong lĩnh vực xây dựng nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển bền vững trong nông nghiệp và xây dựng.