Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về làng nghề chế biến nông sản Kết quả tổng quan cho thấy các nghiên cứu về lịch sử hình thành làng nghề còn ít nhưng thực tế làng nghề đã tồn tại và có lịch sử lâu đời ở nước ta nói chung và ĐBSH nói riêng. Theo đánh giá từ các nguồn tư liệu, trong giai đoạn đầu, làng nghề CBNS được hình thành và phát triển theo quy mô hộ gia đình để tăng giá trị các sản phẩm nông nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường.
Dần rà, dựa trên mức độ sẵn có về nguyên liệu, nhu cầu thị trường và giá trị kinh tế mang lại, hoạt động chế biến nông sản được mở rộng với nhiều hộ tham gia, từ đó hình thành lên các cụm hộ làm nghề rồi phát triển thành làng nghề. Lê Quốc Doanh và cs. (2003) đã khái niệm về làng nghề "là tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của cộng đồng". Đinh Xuân Nghiêm và cs.
(2010) lại đưa ra ba quan niệm về làng nghề và dựa trên các quan niệm này đã đưa ra khái niệm làng nghề "là một thiết chế kinh tế xã hội, một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng". Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) đưa ra khái niệm làng nghề "là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau". Các làng nghề được công nhận phải đảm bảo được các tiêu chí về số hộ tham gia sản xuất tối thiểu 30% số hộ của thôn tham gia; có sự ổn định của lĩnh vực sản xuất kinh doanh điển hình theo tên gọi làng nghề tối thiểu 2 năm và chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước về làng nghề. 7 Dựa trên kết quả tổng quan, chúng tôi đưa ra khái niệm về làng nghề CBNS như sau: “Làng nghề CBNS là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn cùng sản xuất một hoặc một số sản phẩm liên quan đến hoạt động CBNS, có tính đặc thù cao về tính chất sản phẩm và cơ cấu thu nhập trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”.
Khái niệm này sẽ được sử dụng để triển khai các nội dung nghiên cứu về đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ làng nghề CBNS trong đề tài này. Khái niệm về chất thải và tác động của chất thải tại các làng nghề 1. Chất thải phát sinh từ làng nghề chế biến nông sản Hoạt động sản xuất dù ở quy mô nhỏ đến lớn, đơn giản đến phức tạp khi đã sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất ra một sản phẩm khác đều có khả năng gây phát sinh chất thải. Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đưa tra định nghĩa rằng chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác của sản xuất và tiêu dùng (Quốc hội, 2005).
Do tính chất và đặc điểm tiêu dùng của chất thải mà có thể phân loại chất thải khác nhau như (i) dựa trên đặc tính về dạng vật chất, chất thải ở các làng nghề được chia thành chất thải rắn (xỉ than, vỏ sắn, vỏ dong riềng, bã bột gạo, bã dong, bã sắn,.); chất thải lỏng (nước rửa củ sắn, củ dong, nước lọc bột, nước ngâm gạo,.) và chất thải khí (khí than, bụi, mùi,.); (ii) dựa trên mức độ nguy hiểm của chất ô nhiễm trong chất thải để phân loại chất thải thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại; và (iii) dựa trên khả năng tái sử dụng chất thải để chia thành chất thải có thể tái chế và chất thải không thể tái chế. Dựa trên các quan điểm trên, chất thải làng nghề CBNS là vật chất được thải ra từ hoạt động sản xuất nghề tại làng nghề CBNS và tồn tại ở các dạng chất thải rắn, chất thải lỏng và khí thải. Về cơ bản, chất thải từ hoạt động sản xuất CBNS cũng được phân loại như các chất thải khác gồm chất thải rắn, lỏng và khí, chất thải thông thường và một phần chất thải nguy hại; chất thải có thể tái chế (phổ biến) và chất thải không thể tái chế (do lẫn các tạp chất và chất thải nguy hại). Cũng như chất thải từ hoạt động sản xuất khác, chất thải từ hoạt động chế biến nông sản khi thải ra môi trường sẽ gây tác động tiêu cực đến các thành phần 8 môi trường, khi các chất gây ô nhiễm có trong chất thải từ làng nghề tích tụ và vượt quá ngưỡng cho phép sẽ gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, làm thay đổi thành phần và tính hữu ích của môi trường, gây thiệt hại kinh tế cho các đối tượng chịu chi phối của thành phần môi trường đó.
Khái niệm về tác động và đánh giá tác động môi trường do chất thải phát sinh Chất thải phát sinh không được thu gom và xử lý kịp thời, vượt quá sức tải của môi trường sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Đối với các làng nghề CBNS, nguyên liệu chính là sản phẩm nông sản (củ dong, củ sắn, gạo,.) để tạo ra sản phẩm tiêu dùng như miến dong, bột sắn, bột dong, bún, bánh đa, rượu và phát sinh các loại chất thải gồm vỏ dong, vỏ sắn, đất cát, nước lẫn bã dong, bã sắn, tạp chất, hóa chất, xỉ than. Các chất thải này khi phát sinh sẽ bị phân hủy theo thời gian và tác động đến các thành môi trường. Tác động phát sinh từ chất thải phát sinh tại làng nghề là những tác động làm thay đổi chất lượng và chức năng của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí) ở làng nghề và vùng phụ cận làng nghề.
Dựa vào xu hướng của tác động để phân thành tác động tiêu cực và tích cực, nhưng chủ yếu là tác động tiêu cực. Dựa vào mức độ lan tỏa của các động người ta phân thành tác động tại chỗ và tác động lan truyền. Các tác động từ phát sinh chất thải, gây ô nhiễm môi trường ở làng nghề CBNS bao gồm các ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và nhiều hoạt động khác của dân cư tại làng nghề và các khu vực phụ cận làng nghề (Phụ lục 1). Hoạt động đánh giá tác động môi trường ở làng nghề sẽ cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà chính sách ra các quyết định phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững sản xuất ở làng nghề.
Đánh giá tác động được hiểu là việc phân tích diễn biến, xác định và dự báo tác động đến môi trường từ các hoạt động sản xuất để xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường kịp thời. Lượng hóa tác động hay thiệt hại kinh tế là tính toán các tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường đến các đối tượng bị ảnh hưởng. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008b), các tác động môi trường ở các làng nghề CBNS chủ yếu suy giảm năng suất, sản lượng cây trồng, năng suất 9 và sản lượng thủy sản, suy giảm sức khỏe như gia tăng các bệnh ngoài da, viêm niêm mạc, nấm móng, dầy sừng gan bàn chân, viêm chân tóc, viêm nang lông cho cư dân làng nghề và cư dân ở khu vực phụ cận làng nghề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008b). Khái niệm về thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh Trong một số điều ước quốc tế có liên quan, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường được xác định bao gồm thiệt hại về hệ động vật, thực vật, đất, nước và các yếu tố khí hậu; thiệt hại về tài sản vật chất của các đối tượng và hoạt động có liên quan; thiệt hại về cảnh quan và xói mòn giá trị văn hóa; thiệt hại về mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố trên (Philip, 2003).
Tương tự, EUROPA (2004) quan niệm về thiệt hại môi trường là sự thay đổi bất lợi về tài nguyên thiên nhiên hoặc những cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể xảy ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và biểu hiện dưới dạng thiệt hại đối với các loài và môi trường sống tự nhiên của chúng; thiệt hại đối với môi trường nước, đất và không khí gây ra nguy cơ đáng kể cho sức khỏe con người. Luật bảo vệ môi trường của Liên bang Nga đã có định nghĩa rõ nét nhất về thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường gồm cả những giá trị thiệt hại về sức khỏe của cá nhân và cộng đồng do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ ô nhiễm môi trường. Nhật Bản đã phân chia thiệt hại kinh tế môi trường thành nhiều dạng bao gồm cả thiệt hại kinh tế đối với sức khỏe và tính mạng của con người; thiệt hại kinh tế về tài sản; thiệt hại kinh tế do suy giảm tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; thiệt hại kinh tế do mất hoặc giảm giá trị cảnh quan, giá trị văn hóa và mỹ quan (Cấn Anh Tuấn, 2011). Ngoài ra, Vũ Thu Hạnh và Nguyễn Văn Phương (2012) còn cho thấy tại Australia, ngoài những thiệt hại kinh tế kể trên, các thiệt hại lợi ích về văn hóa, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, giải trí (gọi chung là lợi ích phi vật chất) cũng được coi là thiệt hại kinh tế và cần được đánh giá.
Ở nước ta, mặc dù chưa xác định rõ, nhưng khái niệm về thiệt hại kinh tế do ô nhiễm và suy thoái môi trường được quy định một phần trong Điều 130 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 gồm: (i) Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi 10 trường; (ii) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.