Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang trở thành ngành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả nước, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì ngành chăn nuôi đã cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cả về số lượng cũng như chất lượng. Đặc biệt chăn nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho nhu cầu của xã hội trong thời gian ngắn. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao. Thực phẩm có chất lượng cao đang được sự quan tâm và chú ý rất lớn của người tiêu dùng.
Do vậy, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bước phát triển mới về công tác giống, kĩ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Ở nước ta việc tạo ra các giống gà cao sản còn hạn chế mà chủ yếu là nuôi thích nghi các giống gà cao sản trên thế giới, trên cơ sở đó ta nhân giống rộng rãi và xây dựng quy trình chăn nuôi cho phù hợp với từng giống trong từng điều kiện chăn nuôi cụ thể ở nước ta. Để có được một giống, dòng hay con lai có khả năng sinh sản cao mà lại có sức đề kháng tốt với là một câu hỏi lớn đối với người chăn nuôi. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành đề tài ‘‘Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Sasso nuôi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu đề suất áp dụng vào thực tế sản xuất. - Bản thân bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. - Xác định khả năng sinh sản của gà Sacso. - Góp phần hoàn thiện thêm quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà Sacso.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Làm phong phú thêm tư liệu khoa học về khả năng sản xuất của giống Sasso. Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở khuyến cáo cho người chăn nuôi lựa chọn được giống gà thích hợp, năng suất cao phù hợp với điều kiện Thái Nguyên. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm chung về gia cầm - Ngoại hình: Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm. Đó là những đặc điểm bên ngoài của vật nuôi có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích.Các đặc điểm về ngoại hình đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. + Sự phát triển của lông là dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại.
Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ được thay thế bằng bộ lông cố định. Tốc độ mọc lông là biểu hiện mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới cường độ sinh trưởng. Theo Brandsch H và Bichelh (1978) [2], gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. Màu lông do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Màu sắc da lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc da lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc. Thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần. Màu sắc da lông do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc, Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [9].
Các giống gia cầm khác nhau thì có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene) trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm nipocrom (caorotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng. e 4 + Đầu: Cấu tạo của xương đầu coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu của gia cầm.
Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết. + Mỏ và chân: Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (stratumcorneum). Mỏ phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao.
Màu sắc của mỏ có nhiều loại: vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hơp với màu của chân. Chân gia cầm có 4 ngon, rất ít có 5 ngón, Trần Kiên và Trần Hồng Việt (1998) [8]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn ngón và da.
Chân thường có vuốt và cựa, cựa thường dùng để cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài, Trần Thị Nguyệt Thu (1999) [15]. Gà có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. + Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái. Mào rất đa dạng về kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống gà.
Mào là dẫn suất của da. Theo Phan Cự Nhân (1971) [11], khi có mặt của gen Ab mào sẽ có màu hoa hồng, gen aB sẽ có dạng mào nụ, gen ab sẽ có dạng mào cờ. Ở gà trống sự phát triển của mào tích sẽ phản ánh sư thành thục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu là mào tích phát triển không rõ là dấu hiệu xấu đến khả năng sinh sản. - Hình dáng kích thước chiều đo cơ thể Tùy vào mục đích sử dụng các giống gia cầm được chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng.
Gà hướng thịt thường có hình dang cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà chuyên trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản xuất của gia cầm Qua nhiều kết quả nghiên cứu thì trong quá trình phát triển cá thể mỗi tính trạng là kết quả tác động qua laị của nhiều gen và chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng.
Đó là những tính trạng mà sự khác nhau về mức độ hơn là sự khác nhau về chủng loại. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (Metric character). Do việc nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc vào việc đo lường (cân, đo) như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo… • Bản chất di truyền của các tính trạng số lượng Tính trạng số lượng hay tính trạng năng suất còn được gọi là tính trạng đo lường. Để nghiên cứu các đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng không chỉ dung các quy luật của Mendel mà còn phải sử dụng các khái niệm của hệ thống sinh thái (Nguyễn Văn Thiện,1998) [12].
Thì các tính trạng biểu hiện ra ngoài một cá thể gọi là kiểu hình của cá thể đó. Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotype) của cá thể đó ký hiệu P, các giá trị có liên quan với kiểu gen là giá trị kiểu gen (genno value type) ký hiệu là G. Trong những điều kiện khác nhau, giá trị của p có sự khac nhau, người ta gọi đó là sự sai lệch môi trường (Enviroment deviation) ký hiệu là E, mối liên hệ này có thể biểu hiện bằng công thức: P=G+E Tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen (gọi là hiện tượng đa gen) và các gen này hoạt động theo ba phương thức: - Hiệu ứng cộng gộp A: Là do giá trị giống quy định, không thay đổi di truyền. Thông thường có thể tính toán được, nó có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.
e 6 - Hiệu ứng trội D và át gen I là giá trị giống đặc biệt không thể xác định được, chỉ có thể thông qua thực nghiệm. D và I không di truyền, phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác gen. Chúng là cơ sở cho việc lai giống. Do đó kiểu gen được xác định là: G = A+ D+ I - Các tính trạng di truyền còn chịu ảnh hưởng của môi trường E, Trong đó có hai loại môi trường chính: + Môi trường chung (Eg) tác động thường xuyên đến các cá thể trong quần thể lâu dài.
+ Môi trường riêng (Es) chỉ tác động riêng biệt nào đó trong quần thể với thời gian ngắn. Vì vậy nên có thể viết là: E = Eg+ Es Qua mối quan hệ giữa di truyền và ngoại cảnh thì kiểu hình của một cá thể biểu hiện bằng công thức: P= A+ D+ I+ Eg+ Es 2. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 2. Khả năng sinh sản của gia cầm Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm.
Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng. Còn gà hướng thịt (cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự phân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm. Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.
Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm. Theo Brandsch và Bilchel (1978) [2] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng.
Tần số thể hiện bản năng đòi ấp. Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ). Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm.
Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà hay của một dòng gà nào đó thì người ta dựa vào những chỉ tiêu sau: Tuổi đẻ đầu Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục về tính.