Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống rừng ngập mặn tỉnh Trà Vinh trải dài trên 65 km bờ biển với hai cửa sông lớn là Cổ Chiên và Định An, giữ vai trò lá chắn sinh thái phòng hộ, chống sạt lở và thích ứng biến đổi khí hậu. Tại xã Đông Hải, huyện Duyên Hải, diện tích rừng Đước (Rhizophora apiculata Blume) thuần loài đạt 269,89 ha, trong đó có 164,11 ha được gây trồng tập trung trong giai đoạn 2008 - 2018 với các cấp tuổi từ 3 đến 13. Mặc dù diện tích tương đối lớn, công tác quản lý và kiểm tra lâm học tại địa phương trong nhiều năm qua chỉ dừng lại ở việc đánh giá cơ học các chỉ tiêu tỷ lệ sống hay mật độ hiện còn so với hồ sơ thiết kế ban đầu, hoàn toàn thiếu vắng các cơ sở dữ liệu định lượng về quy luật sinh trưởng và động thái cấu trúc lâm phần qua các năm tuổi.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định rõ nét các đặc trưng cấu trúc không gian, quy luật phân bố số cây và tiến trình sinh trưởng của cây Đước trồng trên đất bãi bồi ven biển từ tuổi 3 đến tuổi 13. Phạm vi nghiên cứu khảo sát chi tiết trên hai cấp mật độ trồng: cấp mật độ 1 (CD1, mật độ từ 5.000 đến 9.000 cây/ha trên nền đất bãi bồi thấp) và cấp mật độ 2 (CD2, mật độ dưới 5.000 cây/ha trên địa hình cao kết hợp nuôi trồng thủy sản). Về mặt lý luận, công trình bổ sung hệ thống phương trình tương quan và mô hình toán học dự báo sinh thái rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu xác định trữ lượng đạt 101,5 $\text{m}^3/\text{ha}$ ở CD1 sau 11 năm, đồng thời cung cấp căn cứ kỹ thuật chuẩn xác về thời điểm tỉa thưa ở tuổi 7 - 8 và tuổi thành thục số lượng 12 - 14 năm cho các chủ rừng và đơn vị kiểm lâm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết diễn thế sinh thái rừng ngập mặn nhiệt đới và lý thuyết cấu trúc quần thụ rừng định lượng. Quá trình bồi lắng phù sa ven biển tạo lập nền đất bùn chặt ngập triều từ 3 - 4 giờ/ngày là môi trường tối ưu cho các loài cây họ Đước (Rhizophoraceae) phát triển bền vững. Cấu trúc quần thể rừng được phân tích thông qua sự tương tác không gian giữa các cá thể cây rừng thuần loài, đều tuổi. Các khái niệm lâm học then chốt được lượng hóa bao gồm: đường kính thân cây ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_{tan}$), tiết diện ngang ($G$), trữ lượng thân cây đứng ($M$), chỉ số mật độ cây đứng (SDI) và chỉ số cạnh tranh tán (CCI). Động thái sinh trưởng quần thụ được mô hình hóa theo quy luật hàm phi tuyến, kết hợp hệ thống phân loại tầng cây Kraft theo 5 cấp sinh trưởng dựa trên hệ số chiều cao tương đối $K_H$.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hệ thống 26 ô tiêu chuẩn (OTC) định vị bằng tọa độ VN2000, diện tích mỗi ô là $500\text{ m}^2$ (tổng diện tích mẫu biểu đạt $13.000\text{ m}^2$). Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để bố trí 26 OTC trải đều qua 6 cấp tuổi (tuổi 3, 5, 7, 9, 11, 13) thuộc 2 cấp mật độ trồng CD1 và CD2. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho toàn bộ 164,11 ha rừng Đước tại khu vực.

Toàn bộ cây thân gỗ trong OTC được đo đếm chi tiết: chu vi thân đo bằng thước dây quy đổi sang $D_{1.3}$ (độ chính xác 0,1 cm), chiều cao $H_{vn}$ đo bằng thước đo cao lâm sinh (độ chính xác 0,3 m), và đường kính tán $D_{tan}$ đo theo hai hướng trực giao (độ chính xác 0,2 m). Trữ lượng lâm phần được tính theo công thức Smalian với hình số thân cây hiệu chỉnh $F = 0,475$. Xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm chuyên dụng Excel và Statgraphics. Lý do lựa chọn thuật toán hồi quy phi tuyến Marquardt là khả năng tối ưu hóa các tham số phân bố Weibull 3 tham số và các hàm sinh trưởng Gompertz, Korf với hệ số xác định $R^2$ đạt trên 95%, giảm thiểu sai số tuyệt đối trung bình (MAE) và tổng bình phương phần dư (SSR), phản ánh chính xác bản chất sinh trưởng phi tuyến của thực vật ngập mặn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra và xử lý thống kê 26 ô tiêu chuẩn đã chỉ ra 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, có sự chênh lệch rõ rệt về tích lũy sinh khối giữa hai cấp mật độ trồng. Ở cấp tuổi 11, trữ lượng lâm phần ở cấp mật độ CD1 đạt 101,5 $\text{m}^3/\text{ha}$, trong khi ở CD2 chỉ đạt 60,1 $\text{m}^3/\text{ha}$. Như vậy, lâm phần CD1 đạt năng suất trữ lượng cao hơn CD2 đến 68,9% (chênh lệch 41,4 $\text{m}^3/\text{ha}$), chứng minh mật độ trồng ban đầu dày giúp tối ưu hóa tổng tiết diện ngang thân cây trên một đơn vị diện tích đất bãi bồi.

Thứ hai, mật độ cây đứng giảm mạnh theo quy luật hàm logarit giảm do hiện tượng đào thải tự nhiên. Cấu trúc số cây theo cấp đường kính ($N/D_{1.3}$) và theo cấp chiều cao ($N/H_{vn}$) ở cả hai cấp mật độ đều tuân theo hàm phân bố lý thuyết Weibull dạng đường cong một đỉnh với $R^2$ điều chỉnh đạt từ 85,1% đến 98,7%. Đỉnh phân bố có xu hướng dịch chuyển dần về phía các cấp kính lớn khi tuổi rừng tăng lên.

Thứ ba, sinh trưởng về đường kính $D_{1.3}$ và chiều cao $H_{vn}$ đạt cường độ tăng trưởng thường xuyên cực đại ($ZD_{max}, ZH_{max}$) ngay trong 4 năm đầu sau khi trồng. Sau giai đoạn này, suất tăng trưởng đường kính và chiều cao suy giảm nhanh theo từng năm, và mô hình toán dự báo tiến trình tăng trưởng kích thước cá thể sẽ tiệm cận điểm dừng sau tuổi 16.

Thứ tư, tuổi thành thục số lượng về trữ lượng ($M_{lp}$) của rừng Đước tại khu vực nghiên cứu rơi vào khoảng 12 - 14 năm tuổi. Phân tích phân cấp sinh trưởng theo Kraft cho thấy cây cấp III chiếm tỷ lệ cá thể cao nhất (khoảng 38%), nhưng nhóm cây ưu thế thuộc cấp I và cấp II (chiếm khoảng 30% số cây) lại nắm giữ xấp xỉ 60% tổng trữ lượng của toàn lâm phần.

Thảo luận kết quả

Mật độ ban đầu cao tại CD1 thúc đẩy sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng và ánh sáng diễn ra sớm, kích thích cây vươn cao mạnh mẽ ở giai đoạn rừng non. Chỉ số cạnh tranh tán (CCI) và chỉ số mật độ cây đứng (SDI) tính toán được cho thấy hiện tượng giao tán bắt đầu diễn ra đồng loạt từ cấp tuổi 7 trên cả hai cấp mật độ. Điều này lý giải vì sao sau 7 năm, tốc độ tăng trưởng đường kính có dấu hiệu chậm lại nếu không có tác động tỉa thưa nhân tạo.

Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các công trình nghiên cứu về rừng Đước ngập mặn tại Cần Giờ và Cà Mau. Tuy nhiên, điều kiện thổ nhưỡng bùn chặt và chế độ bán nhật triều tại Trà Vinh tạo điều kiện cho hàm Gompertz thể hiện độ tương thích xuất sắc nhất khi mô tả đường cong tích lũy trữ lượng theo dạng chữ S ($R^2 > 98%$). Dữ liệu phân bố thực nghiệm và lý thuyết khi biểu diễn qua biểu đồ tần suất cho thấy sự cân đối lý tưởng của lâm phần ở độ tuổi 9 - 11, mở ra khung thời gian can thiệp tỉa thưa hợp lý nhằm chuyển dịch tối đa sinh khối sang các cây bài giữ lại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các chỉ số định lượng của nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý được đề xuất cụ thể như sau:

  1. Thực hiện tỉa thưa lần đầu ở giai đoạn 7 - 8 năm tuổi đối với cả hai cấp mật độ trồng, áp dụng cường độ tỉa thưa từ 25% đến 30% tổng số cây hiện còn. Chủ rừng cần tập trung bài thải các cây phẩm chất xấu, cong queo, bị chèn ép thuộc cấp sinh trưởng IV và V theo phân loại Kraft, nhằm giải phóng không gian dinh dưỡng và hạ chỉ số cạnh tranh tán CCI về ngưỡng an toàn.
  2. Tổ chức tỉa thưa lần hai ở giai đoạn 11 - 12 năm tuổi với cường độ giãn cách từ 15% đến 20% mật độ cây đứng. Biện pháp này giúp tập trung trữ lượng vào các cây cấp I và cấp II, chuẩn bị cho việc thu hoạch chính khi rừng đạt tuổi thành thục số lượng ở mốc 12 - 14 năm với mục tiêu trữ lượng thương phẩm đạt trên 110 $\text{m}^3/\text{ha}$.
  3. Tiêu chuẩn hóa mật độ gieo trồng ban đầu cho các dự án trồng rừng ngập mặn mới tại Trà Vinh trong giai đoạn 2023 - 2030 ở mức 5.000 - 6.000 cây/ha. Mức mật độ này vừa đảm bảo khả năng khép tán chắn sóng bảo vệ đê biển sau 3 năm, vừa tiết kiệm 20% chi phí cây giống ban đầu và giảm tải áp lực tự tỉa thưa gay gắt.
  4. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trà Vinh và Ban Quản lý rừng phòng hộ cần phối hợp ban hành sổ tay hướng dẫn quản lý kỹ thuật riêng biệt cho 2 mô hình: rừng phòng hộ tập trung của nhà nước và rừng Đước kết hợp nuôi tôm sinh thái của các hộ dân xã Đông Hải, hoàn thành áp dụng trước quý IV năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm địa phương: Sử dụng các mô hình suy giảm mật độ và hàm sinh trưởng để xây dựng quy chế quản lý rừng phòng hộ, lập kế hoạch khai thác tỉa thưa và giám sát diễn biến tài nguyên rừng định kỳ.
  • Kỹ sư lâm sinh và các đơn vị tư vấn quy hoạch rừng: Ứng dụng các bảng tra thể tích Smalian, phương trình tương quan $H_{vn} = \sqrt{a + b \cdot D_{1.3}}$ và hàm Gompertz để điều tra nhanh trữ lượng gỗ, tính toán chỉ số hấp thụ carbon mà không cần chặt hạ giải tích cây mẫu.
  • Các hộ dân và hợp tác xã nuôi tôm - rừng kết hợp: Tiếp cận cơ sở khoa học về động thái giao tán ở tuổi 7 để chủ động tỉa thưa đúng kỹ thuật, duy trì độ che phủ tán rừng khoảng 50 - 60% nhằm tối ưu hóa môi trường sống cho thủy sản dưới tán đước.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Lâm học: Tham khảo phương pháp luận kết hợp thống kê sinh vật học, thuật toán Marquardt và mô hình hóa phi tuyến trong phân tích cấu trúc quần xã thực vật ngập mặn.

Câu hỏi thường gặp

Trữ lượng rừng Đước tại Trà Vinh đạt bao nhiêu sau 11 năm trồng?
Trữ lượng thân cây đứng sau 11 năm đạt 101,5 $\text{m}^3/\text{ha}$ ở cấp mật độ 1 (trồng dày từ 5.000 đến 9.000 cây/ha) và đạt 60,1 $\text{m}^3/\text{ha}$ ở cấp mật độ 2 (trồng dưới 5.000 cây/ha). Sự chênh lệch 41,4 $\text{m}^3/\text{ha}$ cho thấy mật độ trồng ban đầu ảnh hưởng rất lớn đến năng suất tích lũy sinh khối.

Tại sao rừng Đước cấp mật độ 1 lại có năng suất trữ lượng vượt trội hơn cấp 2?
Rừng cấp 1 được trồng trên nền đất bãi bồi thấp ngập triều định kỳ với mật độ ban đầu cao, tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi thúc đẩy cây tăng trưởng nhanh về chiều cao vút ngọn và đạt tổng tiết diện ngang thân cây ($G$) trên mỗi hecta lớn hơn nhiều so với cấp 2.

Thời điểm tối ưu để tiến hành tỉa thưa rừng Đước là khi nào?
Thời điểm tỉa thưa lần đầu thích hợp nhất là ở tuổi 7 - 8, khi chỉ số cạnh tranh tán CCI cho thấy rừng bắt đầu giao tán mạnh. Tỉa thưa lần hai nên thực hiện ở tuổi 11 - 12 với cường độ 15 - 20% trước khi rừng bước vào giai đoạn thành thục số lượng ở tuổi 12 - 14.

Mô hình toán học nào mô tả chính xác nhất sinh trưởng của cây Đước trong nghiên cứu?
Hàm sinh trưởng Gompertz dạng $Y = a \cdot \exp(-b \cdot \exp(-c \cdot A))$ là mô hình phù hợp nhất cho cả đường kính, chiều cao và trữ lượng, đạt hệ số tương quan $R^2$ trên 98% và sai số tuyệt đối trung bình MAE nhỏ nhất khi so sánh với hàm Korf và Korsun.

Phân cấp sinh trưởng Kraft có ý nghĩa gì đối với việc điều chế rừng Đước?
Phân cấp Kraft chia cây rừng thành 5 cấp dựa trên hệ số $K_H$. Kết quả cho thấy cây cấp I và II chỉ chiếm khoảng 30% số lượng cây nhưng đóng góp xấp xỉ 60% tổng trữ lượng lâm phần, giúp người làm lâm sinh xác định chính xác đối tượng cần giữ lại nuôi dưỡng.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng về cấu trúc và sinh trưởng của 164,11 ha rừng Đước trồng từ tuổi 3 đến 13 tại xã Đông Hải, Trà Vinh.
  • Khẳng định tính quy luật của cấu trúc số cây theo đường kính và chiều cao tuân theo phân bố lý thuyết Weibull dạng một đỉnh với độ tin cậy thống kê cao.
  • Xác định mốc tuổi thành thục số lượng của rừng Đước bãi bồi ven biển đạt ở giai đoạn 12 - 14 năm tuổi, với tốc độ tăng trưởng kích thước cá thể chậm dần sau tuổi 16.
  • Đề xuất quy trình tỉa thưa nuôi dưỡng rừng khoa học gồm 2 kỳ (tuổi 7 - 8 và tuổi 11 - 12), góp phần nâng cao giá trị kinh tế và chức năng phòng hộ ven biển.
  • Các đơn vị quản lý rừng và kiểm lâm địa phương cần sớm áp dụng các hàm dự báo sinh trưởng của luận văn vào công tác lập kế hoạch kinh doanh và bảo vệ rừng ngập mặn bền vững ngay trong chu kỳ sản xuất tiếp theo.