Luận văn cấu trúc sinh trưởng rừng Đước - Lê Vinh ĐH Nông Lâm TPHCM

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cấu trúc và sinh trưởng rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại xã Đông Hải, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh năm 2022.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

2022

202
2
5

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cách nhận diện rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại Trà Vinh

Rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại tỉnh Trà Vinh tập trung chủ yếu ở khu vực ven biển, đặc biệt là xã Đông Hải, huyện Duyên Hải. Đây là loài cây ngập mặn điển hình, được trồng nhằm phục hồi hệ sinh thái ven biển và chống xói lở. Theo nghiên cứu của Lê Vinh (2022), rừng trồng Đước tại khu vực này được thiết lập với hai cấp mật độ chính: CD1 (mật độ cao) và CD2 (mật độ thấp), với độ tuổi từ 3 đến 13 năm. Đặc điểm nhận diện bao gồm thân trụ thẳng, rễ chống phát triển mạnh, và lá hình bầu dục với đỉnh nhọn đặc trưng. Cây Đước Rhizophora apiculata có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện ngập mặn, với độ mặn dao động từ 10–25‰. Việc nhận diện chính xác loài và cấu trúc rừng là bước đầu tiên để xây dựng chiến lược quản lý và nuôi dưỡng hiệu quả. Ngoài ra, các chỉ tiêu như đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), và mật độ cây/ha là những thông số then chốt giúp đánh giá hiện trạng rừng trồng.

1.1. Đặc điểm hình thái của cây Đước Rhizophora apiculata

Cây Đước Rhizophora apiculata có thân gỗ, cao từ 10–20 m khi trưởng thành. Lá đơn, mọc đối, phiến lá dày, mặt trên xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn. Đặc trưng nổi bật là rễ chống mọc từ cành và thân, giúp cây đứng vững trong bùn lầy. Hoa nhỏ, mọc thành cụm, quả hình thoi, khi chín rụng xuống bùn và nảy mầm ngay – hiện tượng gọi là nảy mầm trên cây mẹ. Đây là đặc điểm sinh học quan trọng giúp loài này thích nghi với môi trường ngập triều.

1.2. Phân bố và điều kiện sinh thái tại Trà Vinh

Tại Trà Vinh, rừng trồng Đước chủ yếu phân bố dọc theo các cửa sông ven biển như Cửa Đại, Cửa Tiểu. Khu vực xã Đông Hải có điều kiện thổ nhưỡng và thủy triều phù hợp cho sự phát triển của Rhizophora apiculata. Nghiên cứu cho thấy cây sinh trưởng tốt nhất ở độ mặn trung bình, với chế độ ngập 1–2 lần/ngày. Đất bùn sét giàu hữu cơ là môi trường lý tưởng cho rễ phát triển và hấp thụ dinh dưỡng.

II. Thách thức trong quản lý rừng trồng Đước Rhizophora apiculata

Mặc dù rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại Trà Vinh đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ bờ biển và đa dạng sinh học, việc quản lý vẫn đối mặt với nhiều thách thức sinh thái và kỹ thuật. Một trong những vấn đề chính là suy giảm mật độ theo thời gian do cạnh tranh ánh sáng và không gian sống. Theo luận văn của Lê Vinh (2022), mật độ rừng trồng tuân theo hàm logarit giảm, đặc biệt rõ ở cấp mật độ CD1. Ngoài ra, xâm nhập mặn gia tăng, ô nhiễm nguồn nước, và hoạt động khai thác trái phép cũng đe dọa đến sự phát triển bền vững của rừng. Thiếu quy hoạch dài hạn và nguồn lực kỹ thuật cho công tác chăm sóc, tỉa thưa khiến nhiều diện tích rừng không đạt tiềm năng sinh trưởng tối đa. Việc thiếu dữ liệu theo dõi liên tục làm giảm hiệu quả trong việc ra quyết định quản lý.

2.1. Suy giảm mật độ và cạnh tranh sinh trưởng

Số liệu từ 26 ô tiêu chuẩn cho thấy mật độ rừng giảm đáng kể từ năm thứ 3 đến năm thứ 13. Ở CD1, mật độ ban đầu khoảng 10.000 cây/ha, nhưng sau 11 năm chỉ còn ~3.000 cây/ha. Sự cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng tự tỉa thưa tự nhiên, làm giảm hiệu quả sử dụng đất và trữ lượng gỗ. Điều này đòi hỏi can thiệp chủ động bằng các biện pháp tỉa thưa định kỳ để tối ưu hóa sinh trưởng.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu và con người

Biến đổi khí hậu làm tăng tần suất và độ mặn của thủy triều, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của Đước Rhizophora apiculata. Đồng thời, hoạt động nuôi trồng thủy sản ven rừng, khai thác củi và du lịch chưa được kiểm soát gây suy thoái cấu trúc rừng. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương làm giảm hiệu quả bảo vệ rừng.

III. Phương pháp đánh giá sinh trưởng rừng trồng Đước hiệu quả

Để quản lý rừng trồng Đước Rhizophora apiculata một cách khoa học, cần áp dụng các phương pháp đánh giá sinh trưởng dựa trên số liệu thực địa và phân tích thống kê. Nghiên cứu của Lê Vinh (2022) sử dụng 26 ô tiêu chuẩn 500 m² trải đều trên 6 nhóm tuổi (3–13 năm), đo đạc các chỉ tiêu như D1.3, Hvn, Hdc (chiều cao dưới cành), Dtan (đường kính tán), và mật độ. Dữ liệu được xử lý bằng phân tích hồi quyphân tích biến động, cho phép xây dựng mô hình dự báo sinh trưởng theo tuổi. Kết quả cho thấy trữ lượng rừng ở CD1 sau 11 năm đạt 101,5 m³/ha, cao hơn gần gấp đôi so với CD2 (60,1 m³/ha). Phương pháp này giúp xác định thời điểm tối ưu để tỉa thưa, khai thác, hoặc bổ sung cây giống, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế – sinh thái của rừng trồng.

3.1. Thiết lập ô tiêu chuẩn và thu thập dữ liệu

Mỗi ô tiêu chuẩn có diện tích 500 m², được bố trí ngẫu nhiên trong từng lô rừng cùng tuổi. Tất cả cây có D1.3 ≥ 5 cm được đo đạc đầy đủ. Việc chuẩn hóa phương pháp đảm bảo tính so sánh giữa các giai đoạn tuổi và cấp mật độ. Dữ liệu thu thập là nền tảng cho mọi phân tích sinh trưởng và dự báo trữ lượng.

3.2. Phân tích thống kê và mô hình hóa sinh trưởng

Sử dụng phần mềm thống kê để xây dựng mô hình hồi quy giữa tuổi và các chỉ tiêu sinh trưởng. Kết quả cho thấy chiều cao và đường kính tăng theo hàm mũ hoặc logarit, trong khi mật độ giảm theo hàm logarit. Những mô hình này là cơ sở cho quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng rừng phù hợp với điều kiện Trà Vinh.

IV. Giải pháp nuôi dưỡng rừng trồng Đước bền vững tại Trà Vinh

Dựa trên kết quả nghiên cứu về cấu trúc và sinh trưởng, có thể đề xuất các giải pháp nuôi dưỡng rừng trồng Đước Rhizophora apiculata phù hợp với điều kiện địa phương. Trước hết, cần thiết lập mật độ trồng ban đầu hợp lý – khoảng 6.000–8.000 cây/ha – để giảm cạnh tranh quá mức và tối ưu hóa sinh trưởng. Thứ hai, tỉa thưa định kỳ ở năm thứ 5–7 giúp loại bỏ cây sinh trưởng kém, tạo không gian cho cây trội phát triển. Thứ ba, kết hợp quản lý cộng đồng thông qua mô hình giao khoán bảo vệ rừng sẽ nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân. Cuối cùng, giám sát sinh thái liên tục bằng công nghệ viễn thám và GIS giúp theo dõi biến động rừng theo thời gian thực. Những giải pháp này không chỉ tăng trữ lượng gỗ, mà còn bảo vệ hệ sinh thái ngập mặngiảm phát thải carbon.

4.1. Điều chỉnh mật độ và tỉa thưa khoa học

Tỉa thưa nên được thực hiện khi hệ số hình thái (tỷ lệ Hvn/D1.3) vượt ngưỡng 80, cho thấy cây đang bị chèn ép. Mục tiêu là giữ lại 1.500–2.000 cây/ha có chất lượng tốt sau 10 năm. Việc này giúp tăng đường kính bình quânchất lượng gỗ, đồng thời giảm nguy cơ gãy đổ do gió bão.

4.2. Tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương

Người dân xã Đông Hải có kinh nghiệm truyền thống trong khai thác sản phẩm rừng ngập mặn. Việc giao quyền quản lýchia sẻ lợi ích từ rừng sẽ khuyến khích họ tham gia bảo vệ, giám sát và báo cáo vi phạm. Mô hình này đã thành công ở nhiều tỉnh ven biển khác và có thể nhân rộng tại Trà Vinh.

V. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu rừng Đước Rhizophora apiculata

Nghiên cứu của Lê Vinh (2022) không chỉ mang tính học thuật mà còn có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trà VinhBan Quản lý rừng phòng hộ sử dụng để điều chỉnh quy trình trồng và chăm sóc rừng. Cụ thể, trữ lượng 101,5 m³/ha sau 11 năm ở CD1 chứng minh tiềm năng kinh tế của rừng trồng Đước, mở ra khả năng khai thác gỗ bền vững cho ngành thủ công mỹ nghệ và xây dựng. Ngoài ra, dữ liệu sinh trưởng giúp xây dựng bảng tra trữ lượng cho từng độ tuổi – công cụ thiết yếu cho quản lý rừng. Nghiên cứu cũng góp phần vào chiến lược giảm phát thải REDD+ của tỉnh, nhờ khả năng lưu trữ carbon cao của rừng ngập mặn. Đây là minh chứng cho sự kết hợp hiệu quả giữa khoa học lâm nghiệpphát triển bền vững.

5.1. Hỗ trợ ra quyết định quản lý rừng

Các mô hình sinh trưởng và bảng tra trữ lượng giúp cán bộ lâm nghiệp dự báo năng suấtlên kế hoạch khai thác chính xác. Điều này giảm thiểu khai thác non và lãng phí tài nguyên, đồng thời đảm bảo tái sinh tự nhiên hoặc trồng bù kịp thời.

5.2. Đóng góp vào chiến lược khí hậu và sinh thái

Rừng Đước Rhizophora apiculata có khả năng lưu trữ carbon lên đến 1.000 tấn CO₂/ha – cao hơn nhiều so với rừng trên cạn. Dữ liệu từ nghiên cứu hỗ trợ định lượng carbon cho các dự án REDD+tín chỉ carbon, mang lại nguồn thu bền vững cho địa phương.

VI. Tương lai của rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại Trà Vinh

Tương lai của rừng trồng Đước Rhizophora apiculata tại Trà Vinh phụ thuộc vào sự kết hợp giữa khoa học, chính sách, và sự tham gia của cộng đồng. Với bờ biển dài hơn 60 km và nguy cơ xói lở ngày càng nghiêm trọng, rừng ngập mặn là “lá chắn xanh” không thể thay thế. Trong thập kỷ tới, cần mở rộng diện tích trồng mới, đồng thời nâng cao chất lượng rừng hiện có thông qua các giải pháp đã được nghiên cứu. Công nghệ trồng rừng thông minh (sử dụng drone, cảm biến độ mặn) và thị trường carbon sẽ tạo động lực mới cho bảo tồn. Nếu được đầu tư đúng mức, rừng Đước Trà Vinh không chỉ là tài sản sinh thái, mà còn là nguồn thu nhập xanh cho người dân ven biển.

6.1. Mở rộng diện tích và phục hồi hệ sinh thái

Kế hoạch phục hồi 500 ha rừng ngập mặn đến năm 2030 của tỉnh Trà Vinh cần ưu tiên Rhizophora apiculata do khả năng sinh trưởng tốt và hiệu quả bảo vệ bờ. Kết hợp với Avicennia marina sẽ tạo rừng hỗn giao đa tầng, tăng đa dạng sinh học và khả năng chống chịu.

6.2. Phát triển kinh tế xanh từ rừng ngập mặn

Ngoài gỗ, rừng Đước cung cấp tổ yến, hải sản, và dịch vụ du lịch sinh thái. Việc xây dựng chuỗi giá trị xanh – từ bảo vệ rừng đến tiêu thụ sản phẩm – sẽ tạo sinh kế bền vững, giảm áp lực khai thác quá mức và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ lâm học đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng trồng đước rhizophora apiculata blume tại khu vực xã đông hải huyện duyên hải tỉnh trà vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tống quan về cây Đước Tên loài: Đước, tên gọi khác: Đước đôi. Tên khoa học: Rhizophora apiculata Blume Họ thực vật: Đước (Rhizophoraceae). Đặc điểm phân bố cây Dude Cây Đước thuộc họ Rhizophoraceae.

Các loài thuộc họ Rhizophoraceae đều là thực vật có hoa, thân gỗ hoặc thân bụi sông tại vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Đa số là các loài cây lưỡng tính, có một số ít là cây đơn tính hoặc hỗn hợp cả đơn tính và lưỡng tính (Ngô Đình Quế, 2010). Đước là loài cây thường được tìm thấy tại các vùng đồng bằng ngập mặn ven biển. Nơi sinh trưởng và phát triển của cây thường là các vùng bùn mịn, nước mặn hoặc nước nợ, khí hậu quanh năm am ap.

Cây thường mọc với nhau thành từng bụi hoặc phát triển thành các cánh rừng ngập mặn lớn ven biển (Đỗ Dinh Sâm và ctv, 2005; Phan Nguyên Hồng và ctv, 1988). Ở Việt Nam, cây Đước tự nhiên được tìm thấy từ vùng biển miền Trung (tỉnh Quảng Trị) cho đến tận vùng đất mũi Cà Mau (Nam Bộ). Cây Đước cũng được trồng thành những quan thụ rộng lớn ở các tinh Cà Mau, Bến Tre và ở khu vực Can Giờ (TP. Trên những vùng bãi bồi ven biển hoặc cửa sông, mỗi loài cây rừng ngập mặn có nhu cầu sinh thái khác nhau đối với thời gian ngập và độ ngập thủy triều, điều kiện đất đai và các đặc điểm lý tính, hóa tinh của đất và nước.

Trên đất bãi bôi ở vùng ven biển cửa sông, thủy triều ngập tối đa 12 giờ trong ngày, thì các loài cây tiên phong là Mam, hoặc Ban xuất hiện đầu tiên. Cây Ban thuong xuất hiện ở vùng cửa sông, do độ mặn của nước ở đây thường thấp hơn. Trái lại, cây Mam thường xuất hiện xa cửa sông hơn. Một khi bãi bồi được nâng cao dan, nền đất trở nên vững chắc hơn, thời gian ngập nước và độ sâu ngập nước cũng giảm đi, thì xuất hiện các loài Đước hoặc Vẹt.

Nền đất trở nên cao hơn nữa, mặt đất chỉ ngập khi thủy triều lên cao trong ngày hoặc trong tháng thì các loài cây khác như Chà là, hoặc Tra xuất hiện. Quá trình này diễn ra hàng chục năm. Mỗi loài cây rừng ngập mặn chiếm cứ một vùng lãnh thổ riêng, tạo thành những đai rừng thuần loại song song với bờ biển. Đây là quá trình diễn thế tự nhiên rất đặc thù của rừng ngập mặn (Phan Nguyên Hồng và ctv, 1999; Đỗ Đình Sâm và ctv, 2005).

Đặc điểm hình thái và sinh thái cây Đước Cây Đước là loài cây gỗ ngập mặn thường xanh, cây có thể cao tới 30 m, đường kính đến 0,7 m (Phan Nguyên Hong và ctv, 1999). a \ 12 LH” ee! 4 ~ a) Than và rễ cây Đước b) Lá và hoa cây Đước c) Trụ mâm cây Đước Hình 1. Hình thái thân, lá, rễ, hoa và trụ mầm của cây Đước Thân Đước tròn thang, tán lá xanh đậm, rễ chân nom cao tới 3 m, vỏ cây mau xám nâu đến nâu đen với nhiều vết nứt dai. Cây Đước có lá đơn moc đối, hình bầu dục đài 10-15 em, rộng 4-6 cm, gốc lá hình nêm, đầu nhọn, mặt dưới có nhiều cham đen, gân chính nỗi rõ ở mặt dưới, gân phụ không rõ, cuống lá dài 1,5-2 cm, lá kèm hình búp dài 4- 8 cm rụng sớm.

Hoa nhỏ, mau vang nhat tao thanh tu tan 2 dén 4 bốn bông trên một cuống đài 0,5-1 cm, mọc từ nách lá. Quả hình trái lê ngược, dai 2-2,5 cm, vỏ ngoài mau nâu, nhám với 4 cánh đài màu vàng hay đỏ nhạt, khi chín chứa một hạt không phôi nhũ, hat nay mầm trên thân cây me cho ra cây mam dài 15-25 cm, còn gọi là trụ mam (Ngô Đình Qué, 2010). Ở Trà Vinh, cây Dude ra hoa vào tháng 4 đến tháng 5, quả chín vào tháng 7 đến tháng 10. Tác dụng của cay Đước Cây Dude là loại cây ngập mặn có nhiều tác dụng đối với hệ sinh thái tự nhiên và với lợi ích của con người.

Đối với hệ sinh thái, các tác dụng của cây Đước có thê kế đến như: Giúp phục hồi và phát triển các vùng rừng phòng hộ ven biển ở nước ta. Là nơi sinh sống và cư trú của các hệ thống sinh thái ngập mặn như chim, thú, lưỡng cư, tôm cá, bò sát, giáp xác, thân mềm. Rừng hình thành đai rừng vững chãi, bảo vệ vùng bờ biển khỏi tình trạng xâm thực mặn, xói mòn, cát hóa, chống gió, chống bão; cung cấp lượng oxy cho trái đất và tích trữ các-bon trong các bộ phận của cây (Phạm Văn Ngọt và ctv, 2012). Đối với con người, cây Đước có các lợi ích như: Gỗ Đước được sử dụng làm củi đun cho các hộ dân.

Thân cây Đước làm gỗ dé đóng các vật dụng phục vụ sinh hoạt như giường tủ, bàn ghế. Vỏ cây Dude dùng trong các ngành công nghiệp go, giấy, da, in, nhuộm lưới. Các địa phương có rừng Đước còn khai thác được du lịch sinh thái ở rừng ngập mặn (Ngô Dinh Qué, 2010). Khái quát về các van đề cần nghiên cứu 1.

Câu trúc rừng trồng Trong những thập niên gần đây, trong nghiên cứu cấu trúc và sinh trưởng của cây rừng, voi sự hỗ trợ của thống kê toán học và các phần mềm ứng dụng cho lĩnh vực lâm nghiệp, việc nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng đã được thực hiện theo hướng từ mô tả định tính sang định lượng. Người ta đã tính toán xác lập được các mối quan hệ giữa các nhân tố đo tính cây rừng va của quan thụ. Nghiên cứu về cau trúc rừng đã được nhiều tác giả trong nước và trên thế giới thực hiện. Cấu trúc rừng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình cạnh tranh giữa thực vật với cơ chế tác động lẫn nhau giữa chúng trong quần thụ rừng.

Dé tồn tại, mỗi loài cây không chỉ yêu cầu một diện tích dinh dưỡng (không gian sinh trưởng) nhất định mà còn có sự biến động theo tuổi của cây, điều kiện khí hậu và đất đai thổ nhưỡng. Số lượng cây quá nhiều sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa các cá thé dé chiếm lĩnh điều kiện sống, điều đó làm cho cây bị chèn ép mạnh, kha năng bị chết cao, làm suy yếu và đôi khi mat khả năng tái sinh hạt và năng lực sinh san bằng chổi của một số loài cây (Xukasov, 1953; Knapp, 1954; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002). Mặt khác, cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quan thé thực vật theo không gian và thời gian. Trong nghiên cứu cấu trúc của rừng trồng thuần loài, đều tuổi có hai nhóm số liệu được các tác giả quan tâm nghiên cứu, đó là đường kính thân cây tai vi trí tầm cao 1,3 m (D¡;, cm) và chiều cao vút ngọn (Hy,, m) của các cá thể cây.

Số liệu về đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D,3, cm) dung dé đánh giá kích thước của cây và biểu thị tuổi của rừng. Số liệu chiều cao vat ngọn (Hy,, m) dùng dé đánh giá kích thước của cây và biểu thị sự phân tầng của rừng (Phạm Trọng Thịnh, 1999). Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D,3) là một trong những quy luật quan trọng trong kết cấu quần thụ, vì nó thể hiện quy luật sắp xếp các thành phần cấu tạo nên quan thé trong không gian theo thời gian. Từ quy luật này, ta có thé đánh giá được kết cấu của rừng, đề xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp dé xây dựng quan thé có năng suất và tính ôn định cao.

Thông qua mật độ của từng cấp kính, có thé biết rừng dang ở trạng thái nào, xu hướng phát triển ở tương lai. Phân bố cây theo cấp chiều cao (N/H„) phản ánh sự phân bó, sắp xếp trong không gian giữa các cây với nhau. Về phương diện sinh thái học, nó thé hiện cho sự hướng ánh sáng, cạnh tranh để dành không gian sống giữa các cây với nhau. Điều này dẫn đến những cây có sức sống tốt sẽ vươn lên tầng trên, những cây có sức sống kém hon sẽ ở tầng dưới hoặc bi đào thải.

Phương pháp phân tích cấu trúc rừng Khi mô tả và phân tích cấu trúc rừng, các tác giả thường quan tâm xác định thành phan loài cây gỗ theo cấp đường kính (D, cm) và cấp chiều cao (H, m); xác định kết cấu mật độ (N, cây/ha), tiết diện ngang (G,m?⁄ha) và trữ lượng gỗ (M,m’/ha) theo cấp D¡; và cấp Hy; phân bố N/D và phân bó N/H; phân bố N/G và phân bó N/V (Nguyễn Văn Trương, 1984). Cấu trúc rừng biểu thị các thành phan và sự tổ chức sắp xếp của các thành phần theo không gian (thắng đứng, nằm ngang) và thời gian (tuổi rừng) (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Cấu trúc rừng không chỉ phản ánh phân bố số cây theo không gian đứng và ngang, mà còn theo tính phức tạp về cấu trúc. Cấu trúc rừng có thể mô tả bằng phương pháp trắc đồ và phương pháp mô hình hóa bằng các hàm thống kê.

Theo phương pháp mô hình hóa, cấu trúc rừng theo chiều nằm ngang được phản ánh thông qua phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D), phân bố số cây theo tiết điện ngang (N/G) và phân bố số cây theo cấp thé tích thân cây (N/V). Cau trúc đứng được mô tả bằng phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H) (Nguyễn Văn Trương, 1984; Vũ Tiến Hinh, 2005, 2012). Ở Việt Nam, những nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng định lượng cũng đã được nhiều nhà lâm học sử dụng. Nguyễn Văn Trương (1984) đã áp dụng những mô hình toán học để mô tả cấu trúc rừng hỗn loài tự nhiên tự nhiên nhiệt đới ở Việt Nam.

Nguyễn Hải Tuất (1990) đã sử dụng phân bố khoảng cách để mô phỏng phân bố N/D đối với những trạng thái rừng tự nhiên khác nhau. Sau này, nhiều nhà lâm học cũng vận dụng những mô hình toán để phân tích cấu trúc của các kiểu rừng khác nhau (dẫn theo Phạm Trọng Thịnh, 1999; 2004; Vũ Tiến Hinh, 2005, 2012). Sinh trướng của rừng trồng Sinh trưởng của thực vật là quá trình biến đổi về lượng một cách không thuận nghịch của các bộ phận và của toàn cây, kết quả gia tang về số lượng, kích thước và thé tích của chúng theo thời gian. Một cách tóm tắt có thé nói, sinh trưởng là một hàm số phụ thuộc vào tuổi (thời gian) và phương trình khái quát có dạng Y = f(A).

Cùng với tuổi tăng lên, các chỉ tiêu như đường kính, chiều cao, tông diện ngang, trữ lượng, số cây. không ngừng biến đôi. Vì vậy, sinh trưởng quần thụ được coi là sự biến đổi theo thời gian của các chỉ tiêu của quần thụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ