Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về quả bơ 1. Nguồn gốc, đặc điểm và phân loại quả bơ Cây bơ có tên khoa học là Persea americana Mill., thuộc họ Lauraceae (Long não) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ.
Hiện nay, cây bơ phân bố khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới bao gồm các nước như Mexico, quần đảo Antiles, Mỹ, Brazil, Úc, Israel, Indonesia, Việt Nam, Chile, New Zealand… Cây bơ du nhập vào Việt Nam những năm 1940, xuất hiện đầu tiên ở Lâm Đồng, nay được trồng nhiều ở những khu vực như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Phú Thọ, Quảng Trị [7], [9]. Cây bơ thích hợp trên nhiều vùng đất khác nhau như đất sét pha cát, đất pha sét và đất thịt nặng. Cây bơ to, được xếp vào loại cây xanh lá quanh năm. Hình dạng quả bơ thường phụ thuộc vào giống bơ, thông thường dài, bầu dục, tròn, quả lê… Mỗi quả bơ thường có trọng lượng từ 600 - 900 g, có một số giống bơ lớn có cân nặng tới 2,3 kg.
Quả bơ được chia thành ba phần gồm vỏ quả, thịt quả và hạt. Tỉ lệ giữa vỏ, thịt và hạt khác nhau phụ thuộc vào giống. Màu sắc quả thay đổi từ màu xanh sáng, khi chín có màu vàng xanh, tím nhạt đến tím sẫm. Vỏ quả có thể dày hoặc mỏng, bề mặt trơn láng hoặc sần sùi.
Thịt quả thường có màu vàng nhạt, vàng đậm, hương vị béo, thơm dịu. Hạt bơ thường có 2 lớp vỏ lụa bao bọc, với hai tử diệp hình bán cầu. Hiện nay có nhiều giống bơ khác nhau được trồng trên thế giới. Trong đó, phần lớn các giống thương mại đều thuộc 3 chủng bơ phổ biến: - Chủng Mexican: Có nguồn gốc từ cao nguyên Mexico và có khả năng chịu lạnh, lá màu xanh lục, thay đổi nhiều về kích thước.
Vỏ quả khi chín có màu xanh, vàng xanh hay đỏ tím, đỏ sẫm tùy giống. Hàm lượng chất béo rất cao từ 15-30%. Nhược điểm của chủng này là quả nhỏ, da mềm và hạt tương e 5 đối lớn. Con lai được chọn lọc từ những chủng này là những giống có giá trị, ví dụ giống Fuerte và giống Zutano.
- Chủng Guatemalan: Các giống của chủng này như Hayes, Hopkins và Hass, bắt nguồn từ vùng cao nguyên, tuy vậy chúng ít chịu lạnh hơn so với chủng Mexican. Các giống của chủng này có lá mầu xanh sẫm, thường có quả lớn, da dày, cấu trúc vỏ thô ráp, màu vỏ thay đổi từ xanh lục đến đen khi quả trưởng thành; hạt nhỏ và được giữ chặt trong quả. Hàm lượng chất béo từ 10-15%. - Chủng West Indian (Antillean): Chủng này thích hợp ở những vùng nóng và ẩm, lá to có màu sắc gần như đồng đều ở hai mặt lá, quả lớn có vỏ dai, mẫu mã đẹp, có màu xanh và khi chín thì đổi thành màu xanh hơi vàng.
Hạt khá lớn và nằm lỏng trong lòng quả. Hàm lượng chất béo từ 6-14%. Những giống được trồng phổ biến như Pollock, Booth và Simmonds [3]. Ở nước ta, người dân thường phân loại bơ theo chất lượng thịt quả, chủ yếu dựa vào hàm lượng lipid có trong thịt quả, bao gồm bơ sáp (hàm lượng lipid cao) và bơ nước (hàm lượng lipid thấp và chứa nhiều nước).
Nhìn chung, hàm lượng lipid càng cao thì vị càng ngon và được giá. Giá trị của quả bơ 1. Giá trị dinh dưỡng của quả bơ Quả bơ là nguồn cung cấp nhiều năng lượng (160 kcal/100 g thịt quả), giàu chất dinh dưỡng do dồi dào acid béo không bão hòa, nhiều chất xơ, protein, chất chống oxy hóa, vitamin và khoáng chất [62]. Bơ là một trong rất ít loại quả không có cholesterol mà có chứa nhiều chất béo có acid béo đơn không bão hòa, đây là loại chất béo tốt cho cơ thể giúp lưu thông máu và giảm lượng cholesterol xấu.
Hàm lượng protein trong quả bơ cao hơn các loại quả khác, cao gần như tương đương với sữa, đạt giá trị khoảng 2% trong khi hầu hết các loại quả có hàm lượng protein khoảng 1% và có chứa nhiều thành phần acid amin thiết yếu. e 6 So với trái cây khác, bơ là loại quả có chỉ số đường thấp. Chất xơ chiếm hầu hết lượng carbohydrate (79%) của bơ, là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn kiêng và có lợi cho sức khỏe, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường và béo phì. Quả bơ chứa nhiều vitamin như acid ascorbic, thiamin, riboflavin, niacin, acid folic, vitamin E, β-carotene…và khoáng chất thiết yếu bao gồm canxi, magiê, sắt, phốt pho… Ngoài ra, bơ rất giàu chất chống oxy hóa như acid ascorbic, tocopherol và polyphenol có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do hạn chế lão hóa, bệnh tật [55].
Dầu bơ được đánh giá là tốt cho sức khỏe hơn dầu oliu và dầu hướng dương. Ngoài ra nó còn là nguyên liệu cho ngành công nghiệp mỹ phẩm với vai trò giữ ẩm, trẻ hóa làn da, chống oxy hóa, kháng khuẩn và chống nếp nhăn [66]. Thành phần dinh dưỡng trong 100 g thịt quả bơ [36] Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng Năng lượng 160 kcal Acid patothenic 1,39 mg Protein 2,00 g Acid ascorbic 10 mg Lipid 14,66 g α-Tocopherol 2,07 mg Cholesterol 0 mg Thiamine 0,07 mg Carbohydrates 8,53 g Riboflavin 0,13 mg Cellulose 6,7 g Niacin 1,74 mg Calcium 12 mg Pyridoxine 0,26 mg Iron 0,55 mg Folate 89 μg Magnesium 29 mg Vitamin A 146 IU Phosphorus 52 mg Vitamin K 21 μg Với giá trị dinh dưỡng cao, quả bơ ngày càng được nghiên cứu và quan tâm nhiều, được chế biến và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như ăn tươi, chế biến các món ăn, tinh chiết tinh dầu và đặc biệt sử dụng rất nhiều trong mỹ phẩm. Các món ăn được chế biến từ thịt quả bơ như salad bơ, sushi, kem phủ bơ, e 7 bơ nghiền trộn với các loại rau quả khác… 1.
Giá trị kinh tế của quả bơ Năm 2018, lượng bơ được sản xuất trên toàn thế giới lên đến 6,4 triệu tấn, tăng 6% so với năm trước. Nhìn chung, tổng sản lượng tăng đáng kể từ năm 2007 đến năm 2018, sản lượng tăng với tốc độ trung bình hàng năm +5,3% trong giai đoạn 11 năm qua. Dựa trên số liệu năm 2018, sản lượng bơ tăng 85,2% so với năm 2008. Tốc độ tăng trưởng nổi bật nhất được ghi nhận vào năm 2009 với mức tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu thị trường bơ toàn cầu đạt 13,5 tỷ đô la trong năm 2018. Vào năm 2018, khoảng 2,4 triệu tấn bơ đã được xuất khẩu trên toàn thế giới, tăng 23% so với năm trước [33]. Ở Việt Nam, việc tiêu thụ quả bơ ngày càng phổ biến hơn thể hiện qua việc giá bơ tăng cao. Các cây bơ có giá trị đã mang lại thu nhập đáng kể cho người trồng bơ.
Đặc biệt có những cây bơ sáp có thể cho thu nhập từ 5 - 6 triệu đồng/cây/vụ. Bơ Booth nhập khẩu từ Mỹ hay bơ 034 được người dân vùng Tây Nguyên trồng thành công, đạt chất lượng cao, cho trái đồng đều (2- 3 trái/kg). Khí hậu và đất đai Tây Nguyên rất phù hợp để cây bơ phát triển. Bơ dễ trồng, mau ra quả, không phải tưới nước thường xuyên như cà phê.
Trước tình hình nhiều loại cây trồng đang mất giá, thậm chí không còn chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường thì cây bơ đang tỏ ra rất có ưu thế nhờ chi phí đầu vào thấp nhưng giá trị kinh tế cao và thị trường tiêu thụ rất tiềm năng. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả bơ trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả bơ trên thế giới Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), khi cây bơ bắt đầu được trồng với quy mô công nghiệp (năm 1970), diện tích bơ thế giới đã tăng lên nhanh chóng và đạt 113,73 nghìn ha; sản lượng đạt 1029,65 nghìn tấn. Cây bơ đã có mặt ở 58 quốc gia tại tất cả năm châu lục, tuy nhiên châu Mỹ vẫn là châu lục sản xuất bơ lớn nhất e 8 (chiếm 86,60%) với các siêu cường như Mỹ, Brazil và Cộng hòa Dominica (sản lượng bơ đạt từ 121,70 - 226,03 nghìn tấn).
Tính tới năm 2010, số quốc gia sản xuất bơ tiếp tục tăng lên trên 70 quốc gia với diện tích 433,00 nghìn ha và sản lượng 3,87 triệu tấn. Đáng chú ý, tình hình sản xuất bơ ở châu Á và châu Phi cũng tăng lên đáng kể (đạt 440,04 - 674,07 nghìn tấn). Tình hình sản xuất quả bơ trên thế giới từ năm 2011 – 2018 (FAO, 2020) Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (triệu tấn) 2011 446,84 4,16 2012 462,31 4,41 2013 496,21 4,63 2014 519,66 5,04 2015 542,07 5,28 2016 574,38 5,64 2017 592,39 6,01 2018 918,53 6,41 Trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng bơ thế giới có xu hướng tiếp tục tăng, từ 446,84 nghìn ha lên 918,53 nghìn ha (tăng hơn gấp đôi) với sản lượng tăng từ 4,16 đến 6,41 triệu tấn năm 2018. Với nhu cầu tiêu thụ quả bơ ngày càng tăng, bơ đã được sản xuất với quy mô thương mại trên 73 quốc gia trên thế giới ở tất cả các châu lục.
Tính đến năm 2018, tổng diện tích 10 quốc gia dẫn đầu về sản xuất bơ trên thế giới là 406,85 nghìn ha (chiếm 44,29% tổng diện tích bơ thế giới) với sản lượng đạt 4. Trong đó, Mexico là quốc gia trồng bơ lớn nhất thế giới, chiếm tới lần lượt 22,47% và 34,10% trên tổng số diện tích và sản lượng; tiếp đến là Cộng hòa Dominica, Peru, Indonesia, Colombia, Brazil, Kenya, Mỹ, Venezuala và Israel [9]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả bơ ở Việt Nam Tại Việt Nam, có tới 90% diện tích sản xuất bơ tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên như Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng, trong đó Đắk Lắk là nơi có diện tích và sản lượng lớn nhất; 9% diện tích trồng bơ tại các tỉnh Đông Nam Bộ là Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu; còn lại khoảng 1% diện tích trồng bơ tại các tỉnh phía Bắc và Trung Bộ [2]. Ở Tây Nguyên với cao độ trên 500 m, cây bơ sinh trưởng tốt, năng suất khá, một số cây chất lượng ngon, được xem là cây đặc sản của vùng.
Tuy nhiên, hiện nay sự phát triển của cây bơ vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế ở các địa phương vùng Tây Nguyên. Phần lớn diện tích bơ tại khu vực là trồng rải rác trong vườn hoặc xen canh với cây trồng khác có giá trị nên việc đầu tư chăm sóc chưa đúng mức.