phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 13 tiết. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Trong những năm qua, kể từ sau khi ban hành định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam hay còn gọi là chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam năm 2004. Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trên cả 3 trụ cột về kinh tế, xã hội và môi trường của PTBV. Quá trình thực hiện PTBV, các nguyên tắc và mục tiêu PTBV quốc tế đã được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, trên cơ sở lồng ghép vào trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của các Bộ, ngành và của từng địa phương dựa trên sự kết hợp hài hòa các mục tiêu của cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
Xét ở phạm vi tổng thể nền kinh tế, vùng lãnh thổ, ngành hay địa phương. PTBV được xem như là mục tiêu cuối cùng của quá trình phát triển. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về PTBV ở nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, để đánh giá tổng quát về tình hình nghiên cứu PTBV, trong phạm vi chương này, nghiên cứu sinh sẽ tập trung xem xét đánh giá về PTBV qua các công trình nghiên cứu về mô hình PTBV ở các ngành, lĩnh vực; các nghiên cứu về thực tiễn PTBV các KCN ở các nước và Việt Nam.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu về PTBV. Đặc biệt là sau khi Việt Nam ban hành chương trình Nghị sự 21 quốc gia, đã có khá nhiều bài viết, mô hình đánh giá quá trình PTBV trong nền kinh tế. Thể hiện qua các nghiên cứu sau: “Phát triển bền vững ngành công nghiệp” của Đỗ Hữu Hào [22] đã đánh giá về tình hình PTBV ngành công nghiệp thông qua thực trạng phát triển công nghiệp giai đoạn 2000-2005, các chỉ tiêu chủ yếu trong sản xuất công nghiệp đạt được trong cả nước, những đóng góp của ngành công nghiệp vào GDP và tình hình bảo vệ môi trường công nghiệp. Nghiên cứu đã nêu ra quá trình phát triển cần phải thực hiện những quyết định như QĐ 64/2003/QĐ-Ttg 8 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án “Hạn chế và giảm dần việc sử dụng hóa chất độc hại, các bao bì làm từ các vật liệu khó phân hủy trong công nghiệp, thay thế bằng các nguyên vật liệu thân thiện với môi trường hay chương trình “Áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp trong khuôn khổ chương trình hợp tác Việt Nam – Đan Mạch trong lĩnh vực môi trường” do Chính phủ Đan Mạch tài trợ; Đề án tăng cường chất thải rắn tại các KCN, chăm lo trách nhiệm xã hội trong phát triển KCN.
Trong nghiên cứu còn xây dựng định hướng chiến lược PTBV công nghiệp, trong đó có nêu “Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường, thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đầu tư mới và cải tạo hệ thống xử lý môi trường; chú trọng các giải pháp sản xuất sạch hơn; nghiên cứu hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường, ưu tiên áp dụng công nghệ sạch và công nghệ thân thiện với môi trường”.17] Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu tổng kết mô hình PTBV ở Việt Nam” do Nguyễn Ngọc Sinh làm chủ biên [21] đã đưa ra mô hình sản xuất sạch hơn trong phát triển công nghiệp của các DN tiêu biểu như Công ty Xuân Hòa, Hà Nội; Công ty cổ phần Giấy Rạng Đông, Khánh Hòa; Công ty Dệt Việt Thắng, thành phố Hồ chí Minh và Công ty cổ phần Thủy Sản Cà Mau. Theo đó, các công ty đều đưa ra mô hình sản xuất chính, từ quy trình đó xây dựng các giải pháp mang tính khả thi đưa vào sản xuất như giải pháp tiết kiệm nước, tiết kiệm hóa chất, tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng,… từ đó công ty sẽ tiết kiệm được những khoản chi phí đáng kể như giảm tiêu hao nhiêu liệu, điện, nước, dầu FO và tăng cường các lợi ích về môi trường như giảm lượng nước thải, giảm tải lượng COD, giảm chất thải rắn,… Như vậy mô hình sản xuất sạch hơn này có ý nghĩa lớn về vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trong nghiên cứu này còn đề cập đến mô hình PTBV của thành phố. Sự PTBV của thành phố cần đạt được ba mục tiêu cơ bản như sau: - Thành phố PTBV về kinh tế: thể hiện ở quá trình tăng trưởng liên tục, ổn định, lâu dài các chỉ tiêu kinh tế theo thời gian.
- Thành phố PTBV về tài nguyên và môi trường: thể hiện ở việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác 9 động tiêu cực đến môi trường. Bền vững về tài nguyên và môi trường là việc sử dụng tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó. - Thành phố phát triển về văn hóa xã hội: thể hiện mang lại những lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống cho người dân và sự ổn định của xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa [21, tr. Theo mô hình này, cần xây dựng các nguyên tắc cơ bản của PTBV thành phố gồm: (i) khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, (ii) BVMT và giảm thiểu chất thải, (iii) phát triển đô thị gắn với việc bảo tồn tính đa dạng, (iv) phát triển thành phố phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, (v) chia sẻ lợi ích với cộng đồng dân cư đô thị, (vi) khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư đô thị, (vii) thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng dân cư đô thị và các đối tượng liên quan, (viii) chú trọng việc đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường và (ix) thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Ngoài ra, mô hình còn xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự PTBV của thành phố trên ba tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường và được áp dụng đánh giá tại ba thành phố là Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Một số mô hình PTBV điển hình khác đã được nghiên cứu tổng kết như: mô hình PTBV trong nông nghiệp, mô hình PTBV quy mô làng xã, mô hình PTBV cộng đồng, mô hình PTBV lưu vực sông cùng với khả năng mở rộng việc áp dụng mô hình theo quy mô lớn hơn. Báo cáo quốc gia tại Hội Nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về PTBV (RIO+20), [33] về “Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam” của Chính phủ Việt Nam đã đánh giá tổng kết 20 năm thực hiện PTBV ở Việt Nam và sau gần 10 năm thực hiện định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam. Báo cáo đã chỉ ra những thách thức mà Việt Nam gặp phải khi theo đuổi mục tiêu PTBV nền kinh tế và xây dựng định hướng “tăng trưởng xanh” để thực hiện mục tiêu trên.
Để giám sát và đánh giá PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong báo cáo đã xây dựng hệ thống các chỉ tiêu gồm 10 chỉ tiêu về kinh tế, 10 chỉ tiêu về xã hội, 7 chỉ tiêu về môi trường và 3 chỉ tiêu tổng hợp trên nguyên tắc lồng ghép, liên kết các chỉ tiêu trên như GDP xanh, chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số bền vững môi trường. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở CÁC NƢỚC VÀ VIỆT NAM 1. Các nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững các khu công nghiệp ở các nƣớc Công trình nghiên cứu “ Implementing industrial ecology Planning for eco- industrial parks in the USA” (Lập kế hoạch sinh thái công nghiệp cho các khu sinh thái công nghệ của Hoa Kỳ) của D.Deutz [89] cho rằng mặc dù nhận được sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề PTBV trong các diễn đàn quốc tế nhưng trên thực tế, việc đạt được mục tiêu về kịch bản "win – win – win" về các mặt phát triển kinh tế, xã hội và môi trường vẫn là một vấn đề nan giải, khó đạt được sự thỏa mãn cùng lúc cả ba mục tiêu trên. Những người ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đường thẳng đến hệ thống khép kín sẽ đạt được mục tiêu trên.
Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinh thái đã được sử dụng để xây dựng các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN, giảm rác thải và ô nhiễm môi trường, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc. Trong nghiên cứu này tập trung nghiên cứu phát triển các KCN dưới góc độ kinh tế và môi trường, mối liên hệ lẫn nhau giữa hai yếu tố này mà chưa nhấn mạnh đến các vấn đề xã hội trong quan điểm PTBV. Tác phẩm "The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development of eco-industrial parks: an Australia case study" (Ứng dụng các nguyên tắc sinh thái công nghiệp và hướng dẫn lập kế hoạch phát triển các khu sinh thái công nghệ: một mô hình nghiên cứu của Úc) của B. Roberts Elsevier [87] đã đưa ra quan niệm mới trong PTBV KCN theo hướng phát triển KCN sinh thái với các tiêu chí cụ thể và minh chứng trong điều kiện của Australia.
Mặc dù KCN sinh thái vẫn còn được xem là khái niệm mới mẻ đối với nhiều DN, chính quyền địa phương và cả cộng đồng của nước này. Tương tự như KCN truyền thống, KCN sinh thái được thiết kế cho phép các DN chia sẻ chung cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất và giảm chi phí đặc biệt là giảm các chi phí liên quan đến các nguồn tài nguyên không thể tái tạo, tiết kiệm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu. 11 Park, Joon and Ahn, Kun-hyuck. How did immigrant workers change residential area near industrial estate in Korea? (Người lao động nhập cư đã làm thay đổi khu dân cư gần các KCN ở Hàn Quốc như thế nào?) [90] đã tiến hành nghiên cứu tại Wongok ở Ansan, một thành phố công nghiệp điển hình của Hàn Quốc.
Tác giả chỉ ra sự tăng lên nhanh chóng các giấy phép xây dựng cho Wongok kể từ năm 1998, đồng thời là sự tăng lên của dòng người nhập cư tới KCN.