Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu Thân mềm Chân bụng trên thế giới Nghiên cứu phân loại sinh vật nói chung và Ốc cạn nói riêng có lịch sử lâu đời, sớm nhất có thể kể đến nhà khoa học người Hy Lạp, Aristotle (384- 322 trước công nguyên) và sau đó người đưa ra hệ thống phân loại sinh vật chuẩn xác hơn, nhà khoa học nổi tiếng Carolus Linnaeus, trong ấn phẩm “Hệ thống tự nhiên”, xuất bản năm 1735. Việc hoàn thiện hệ thống phân loại sinh vật tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện vào thế kỷ XVIII, XIX, và XX: Haeckel, 1866; Chatton, 1925; Copeland, 1938; Whittaker, 1969; Woesse và cộng sự, 1990 và Cavalier-Smith, 1998 [174].
Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và Ốc cạn nói riêng vì thế số lượng nhà nghiên cứu còn ít, trong phạm vi nghiên cứu hẹp, chủ yếu thực hiện trong các nhà bảo tàng và một số quốc gia Châu âu. Ốc cạn nói chung được nghiên cứu từ giữa cuối thế kỷ XVIII bằng việc sắp xếp hệ thống tên cho các bậc phân loại. Linnaeus, 1758 đã định tên cho Ngành thân mềm (Mollusca), Cuvier, 1795 đã xác định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda). Ở thế kỷ XVIII kết quả nghiên cứu về Ốc cạn mới chỉ dừng lại trong phạm vi xây dựng hệ thống phân loại và mới tới ngành và lớp là chủ yếu, các nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu và phân loại tới giống, loài hầu như chưa làm được.
Từ đầu thế kỷ XIX tới giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngành khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và Ốc cạn nói riêng. Hầu hết các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà khoa học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới. Các nhà khoa học tiêu biểu nghiên cứu về Châu Á thuộc các nước Pháp, Anh, Đức, Hà Lan. Nhiều công trình có ý nghĩa và giá trị khoa học cao, tiêu biểu n 5 thuộc các tác giả: Souleyet (1841,1841); Pfeiffer (1848-1877) Morlet, L.
và Dautzenberg (1899-1912); Fischer, H. và Dautzenberg (1904); Mabille, J. Giai đoạn này nhiều bảo tàng trên thế giới đã thu thập được một khối lượng mẫu khổng lồ, các tác giả đã công bố được một số lượng loài lớn với các mô tả chi tiết hơn về hình thái và giải phẫu. Có thể nói quá trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã tạo được đà nghiên cứu sâu và rộng hơn về Ốc cạn trên toàn thế giới, tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và các công bố trước đây (cả mẫu vật và tài liệu in ấn) chỉ tập trung ở một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận và sử dụng các tài liệu này còn hạn chế, không phổ biến.
Nghiên cứu Thân mềm Chân bụng ở Việt Nam Việc nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng trên cạn ở Việt Nam thực sự bắt đầu vào những năm giữa của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện. Các dẫn liệu đầu tiên về Ốc cạn ở Việt Nam đã có trong công trình khảo sát về trai Ốc cạn ở Đông Dương của Souleyet từ năm 1841-1842, trong đó đã ghi nhận một số loài Ốc cạn ở miền Trung Việt Nam, như: Streptaxis aberratus, S. deplexus, Eluota touranensis. Năm 1848-1877, công trình nghiên cứu của L.
Pfeiffer đã cho những dẫn liệu về Ốc cạn ở các đảo Nam Bộ như Côn Đảo, Phú Quốc, đã phát hiện tới hàng chục loài mới: Streptaxis ebuneus, Trochomorpha saigonensis. Trong giai đoạn này, những dẫn liệu về Ốc cạn ở khu vực phía Bắc Việt Nam còn rất ít, chỉ có một số loài như Camaena illustris trong nghiên cứu của Pfeiffer ở Lạng Sơn, Alycaeus anceyi trong nghiên cứu của Souleyet ở đảo Kế Bào (Quảng Ninh). Các công trình về Ốc cạn ở miền Bắc chỉ xuất n 6 hiện nhiều vào cuối thế kỷ XIX, với các nghiên cứu của Fischer (1848, 1864); Morlet (1886, 1891, 1892); Hamonville (1887), Dautzenberg (1893); Bavay et Dautzenberg (1899, 1900-1903); Dautzenberg et Fischer (1905). Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỉ XX ở Việt Nam, đã phát hiện 448 loài và phân loài Ốc cạn, đã công bố trong 83 tài liệu xuất bản từ năm 1841 đến 1900 [15].
Tuy nhiên thành phần loài Ốc cạn ở Việt Nam trong thời gian này còn chưa đầy đủ và cần phải xem xét về phân loại học. Trong thời gian từ đầu thế kỉ XX đến 1975, chiến tranh vẫn diễn ra ở Việt Nam, việc nghiên cứu Ốc cạn cũng như các nhóm Ốc khác ở Đông Dương hầu như ngừng lại. Chỉ có một số ít khảo sát kết hợp với địa chất ở các đảo: Hoàng Sa (Paracels), Bạch Long Vĩ (Saurin, 1955,1960) và một số điểm khác ở Bắc Bộ (S. Các công trình trong giai đoạn này bổ sung thêm 82 loài cho khu vực Ốc cạn ở Việt Nam.
Sau chiến tranh rất lâu, các công trình nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng trên cạn mới tiếp được tiến hành do các tác giả nước ngoài thực hiện. Năm 2003, Vermeulen và Maassen đã khảo sát thành phần loài và phân bố của Ốc cạn ở một số khu vực phía Bắc như: Pù Luông (Thanh Hóa), Hạ Long, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ Lý (Hà Nam) nhưng công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở báo cáo, chưa được công bố. Trong báo cáo này, phân lớp Mang trước có 73 loài, ốc Có phổi có 186 loài, 123 loài chưa xác định được vị trí phân loại, có thể là loài mới cho khoa học [21]. Maaseen công bố 4 loài ốc mới (Arina angduensis, A.
lounboesis, Eostrobilops infrequens, Hemiplecta esculenta) ở phía Bắc Việt Nam [49]. Gittenberger đã công bố 3 loài Ốc cạn mới (Leptacme cuongi, Oospira duci, Atraiphaedusa smithi) thuộc họ Clausiliidae ở phía Bắc Việt Nam [48]. n 7 Trong giai đoạn 2007-2013 một số công trình nghiên cứu trên diện rộng, từ miền Trung ra miền Bắc Việt Nam đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa Việt Nam và nước ngoài, trong đó có các công trình: nghiên cứu khu hệ Ốc cạn miền Bắc Việt Nam của nhóm nghiên cứu Ohara, K., Lương Văn Hào (2008, báo cáo chưa xuất bản) phát hiện được 107 loài thuộc 17 họ; Kenji Ohara, K., Lương Văn Hào, Phạm Văn Sáng, (2009, báo cáo chưa xuất bản) phát hiện được 165 loài thuộc 18 họ; Fred Naggs, John Albert, Lương Văn Hào, Phạm Văn Sáng (2007-2013, bản thảo chuẩn bị công bố) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc 20 họ (tài liệu cá nhân chưa công bố). Ngoài các tác giả nước ngoài nghiên cứu về Ốc cạn, mới đây, năm 2005, các tác giả Nguyễn Xuân Đồng, Nguyễn Quý Tuân, Hoàng Đức Đạt mới đề cập đến hai loài ốc núi là: Cyclophorus anamiticus H.martencianus Mollendoff, 1874 đang dùng làm thực phẩm ở núi Bà Đen (Tây Ninh) [4].
Năm 2006, Nguyễn Thị Cậy đã cung cấp dẫn liệu 29 loài và đặc điểm phân bố của Ốc cạn của khu vực thị trấn Tam Đảo (Vĩnh Phúc), trong đó có 8 loài lần đầu gặp ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Việt Nam [1]. Năm 2009, Khổng Thúy Anh đã nghiên cứu tại xóm Dù thuộc VQG Xuân Sơn, (Phú Thọ), đã xác định được 44 loài [9]. Từ năm 2009 đến 2013, Đỗ Văn Nhượng và cộng sự đã có hàng loạt công bố phát hiện về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam, như: 29 loài ở Tam Đảo, 44 loài ở xóm Dù, VQG Xuân Sơn (Phú Thọ), 23 loài ở núi đá vôi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội), 36 loài ở núi Voi (An Lão, Hải Phòng), 46 loài ở thôn Rẫy (Quyết Thắng, Hữu Lũng, Lạng Sơn)[10,11,12]. Các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu về Ốc cạn, tháng 10/2010, Đinh Phương Dung đã xác định được 50 loài ở Tây Trang (Điện Biên), ngay tiếp đó, Nguyễn Thị Ngọc Anh cung cấp 48 loài Ốc cạn, trong đó có 36 loài chưa từng gặp ở nơi nào khác tại Việt Nam ngoài khu vực n 8 Hàm Rồng (Thanh Hóa)[9].
Năm 2011, Nguyễn Thị Nhàn trong nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của Ốc cạn ở Thúc Thủy (An Khang, thị xã Tuyên Quang), đã xác định được 58 loài, thuộc 18 họ. Năm 2012, Nguyễn Thị Quỳnh đã phát hiện 62 loài thuộc 20 họ, trong đó có 12 loài còn chưa xác định được chính xác tên loài. Cùng năm này, Trần Thập Nhất cũng công bố 73 loài, trong đó mới xác định được 50 loài. Những đóng góp trên rất có ý nghĩa để sau này có hệ thống dẫn liệu Ốc cạn ở Việt Nam nói chung.
Như vậy, có thể thấy, Ốc cạn ở Việt Nam đã được điều tra nghiên cứu từ rất sớm (thế kỷ XIX), tuy nhiên việc nghiên cứu không được diễn ra liên tục từ đầu thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XXI. Mặt khác, địa bàn nghiên cứu Ốc cạn cho đến nay chủ yếu là vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc, Nam Bộ của Việt Nam. Vùng đồng bằng và vùng ven biển còn ít được khảo sát. Dựa trên những nghiên cứu cũ và mới, thống kê được thành phần loài Ốc cạn ở Việt Nam hiện nay khoảng 884 loài [15].
Trong đó, các loài mang nhiều tính đặc trưng, rất nhiều loài mới mô tả ở Việt Nam và nhiều loài là đặc hữu. Từ tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy: Khu hệ Ốc cạn ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài, phân bố, sinh học, sinh thái, cũng như các vấn đề nghiên cứu ứng dụng. Vì vậy, cần được tăng cường nghiên cứu Ốc cạn ở Việt Nam trong giai đoạn này. Khu vực rừng Thạch Lâm (Thạch Thành, Thanh Hóa) nằm phía tây sông Bưởi thuộc VQG Cúc Phương cho tới nay vẫn chưa có dẫn liệu về Thân mềm Chân bụng ở cạn.
Vì vậy, nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng trên cạn ở khu vực này là cần thiết để cung cấp các dẫn liệu đa dạng về nhóm này ở VQG Cúc Phương và ở Việt Nam. Nghiên cứu ở VQG Cúc Phương Hầu như những kết quả nghiên cứu trước đây ở Cúc Phương đều còn mang tính chất nhỏ lẻ và chưa có nghiên cứu nào được công bố về khu hệ Ốc cạn ở khu vực Thạch Lâm thuộc VQG Cúc Phương. Trước thập niên 90 chưa n 9 có tài liệu nào công bố về nghiên cứu thành phần Ốc cạn ở VQG Cúc Phương, những tài liệu dẫn liệu về Đa dạng Sinh học ở Cúc Phương chỉ là thực vật, động vật có xương sống và một số nhóm Côn trùng phổ biến. Kể từ cuối thập niên 90 đến nay, nghiên cứu về Ốc cạn ở Cúc Phương nói chung đã được một số nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến như: J.