Chương 1 TỎNG QUAN VÈ VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về thâm canh rừng 1. Trên thế giới Kết hợp với công tác cải thiện giống, nhân giống; ñhiều nước đã có các công trình nghiên cứu đồng bộ áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiện đại trong trồng rừng thâm canh với các điều kiện gay trong khác nhau, nhu chon lap địa, làm đất, bón phân và chăm sóc rừng,. Vì vậy, nẵng-suất của rừng cũng được tăng lên rõ rệt.
Giai đoạn 1900 — 1945, việc trồng rừng đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới với nhiều loài cây trồng và có xu hướng trồng rừng bán thâm canh như ở Brazil vào những năm 20 và 30 của thế kỷ trước đã trồng hàng trăm ngàn ha rừng (Penfold andWillis 1961). Nhiều tiến bộ về kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng cho trồng. rừng trong thời kỳ này, như nghiên cứu của Craib ở Nam Phi vào những năm 1930 về tỉa thưa và tỉa cành (Craib 1934, 1939, 1947); Hệ thống trồng Từng “Taungya” được sử dụng rộng rãi ở Kenya vào những năm 1910 Theo 'FAO (1967), ở Trinidad là phương pháp chính dé trồng rừng Tếch của tác giả Lamb năm 1955. Giai đoạn (1945 1965), - tring rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm, ng cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới đã được đề xuất 1954) các chương trình trồng rừng thương mại đã được thực hiện.
Đến giai đoạn (1966 - 1980) anh được mở rộng nhanh chóng đẻ phục vụ cho công nghiệp chế biến và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng vào sản xuất được quan tâm, như ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000 ha rừng kém chất lượng thành rừng trồng các loài cây Thông (Piz„s caribaea) va Bach dan (E£. Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mở rộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1978) đã ước lượng diện tích rừng trồng ở châu Mỹ La tỉnh giai đoạn 1980 - 1990 tăng gấp 3 lần và sản lượng gỗ công nghiệp tăng gắp 4 lần từ trồng rừng và có thể thỏa mãn 50% tổng yêu cầu gỗ của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng “Rừng trồng cần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ Yếu cho tất cả các ngành công nghiệp sử dụng gỗ”. Tam quan trọng ¢ biệt và làbước đột phá trồng rừng trong giai đoạn này là việc nghiên ©ứu thử nghiệm thành công kỹ thuật nhân giống bằng con đường nuôi cấy mô và giâm hom. Như vậy, lịch sử phát triển rừng theo hướng trồng thâm canh đã được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỳ trở lại đây, nhiều quốc gia đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng, vì vậy mà năng suất rừng trồng bằng một số loài cây-mọc nhanh như Keo, Bạch đàn và một số cây trồng khác đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Điển hình như ở Công Gô, Trung Quốc đã chọn được giống Bạch đàn có năng suất từ 40 - 50 m'/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi caing đã tuyển chọn được đòng E.grandis năng suất đạt trên 40mŸ/ha/năm; ở các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Brazil thông qua con đường lai tạo giữa các loài Bạch đàn, đãtuyển chọn được một số t6 hợp lai cho năng suát từ 40 -'60 mÌ/ha/năm (Zebel et al, 1993), một số rừng Bạch dan thi nghiém bình quân đạt 100m /ha/năm. Việt Nam đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc nhưng đến giai át đầu trồng rừng gắn liền với các mục tiêu kinh tế với phòng hộ và bảo.vệ môi trường. Trồng rừng cung cấp nguyên liệu công nghiệp (chủ yếu là nguyên liệu giấy) được ưu tiên phát triển, tập trung ở hai khu vực trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loài cây ưa sáng mọc nhanh đã được gây trồng như Bồ đề, Mỡ, Keo,. nhưng tỷ lệ thành rừng thấp chỉ đạt 40% - 60% theo diện tích trồng, năng suất bình quân đạt từ 4 - 6 m'/ha trong một chu kỳ kinh doanh.
Nguyên nhân chính là do đầu tư cho trồng còn hạn chế, công tác chọn giống và khảo nghiệm giống còn ít, chọn đất trồng rừng không phù hợp với các loài cây trồng, kỹ thuật trồng rừng yếu kém, chủ yếu vẫn là trồng rừng quảng canh,. Giai đoạn từ năm 1986 - 1990, các mục tiêutrồng rừng công nghiệp về đầu tư thâm canh bắt đầu được thực hiện, song hiệu quả của trồng rừng còn thấp. Phương thức trồng thâm canh được thực Hiện thông. goa chuong trinh hợp tác Việt Nam - Thuy Điển, các cây g6 moe |thanh có năng suất cao được chú ý gây trồng, tỷ lệ thành rừng đạt khoảng 60%, năP suất rừng trồng vào cuối giai đoạn này đã tăng lên, bình quân đạt từ mÌ/hàÌhăm.
Từ năm 1991 đến nay, trồng rừng và kinh doanh rừng trồng ngày càng được quan tâm, đã chú trọng đẩy mạnh trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh và đa mục đích, tập đoàn cây trồng fig bhong phú và đa dạng hơn, vì Vậy năng suất rừng trồng cũng đã được cải thiện một bước. Tuy nhiên, phần lớn rừng trồng ở nước ta hiệu quả. thap chưa phát huy hết tiềm năng đất đai, khí hậu nhiệt đới và cñữi đáp ứng -duge yêu cầu cung cấp gỗ nguyên liệu cho xã hội không ngừng Mi cai thiện, bên cạnh những loài cây bản địa được gây trồng thành công như: Bồ đề, Mỡ, Tre, Luỗng,. thì một số loài cây mọc nhanh như các loài.
Bạch đàn; Keo,. với rất nhiều xuất xứ cũng khẳng định được vai trò và vị-trí của chúng trong cơ cấu cây trồng lâm nghiệp. Khoảng sản xuất đã có chất lượng tốt, tỷ lệ thành rừng đạt dat 15 - 20m`/ha/năm. Trong nhữ im-qua, các nghiên cứu tập trung vào các khâu kỹ thuật nhằm tạo nên các bước đột phá về năng suất và đã đạt được kết quả nhất định.
Các biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng được tăng cường nghiên cứu, như các biện pháp kỹ thuật làm đắt, bón phân,. Vì vậy, năng suất rừng trồng cũng được nâng cao. Trong một số khảo nghiệm về Keo lai năng suất đạt được trên 25mỶ/ha/năm. Một số dòng Bạch đàn P2 và PN1⁄ sau 8 năm trồng 5 ở Tây Nguyên bình quân đạt 21m”/ha/năm.
Đây chính là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu chọn giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh. Như vậy, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã có tác dụng căn bản đến sản lượng và năng suất rừng trồng. Năng suất rừng trồng được cải thiện và tăng gấp 2 - 3 lần so với một số cây trồng trước đây: Qua kết quả đánh giá cho thấy, tiềm năng để nang cao nang suat va hiệp quả kinh tế của rừng trồng theo hướng áp dụng các biện pháp| được rộng mở. be Cùng với những tiến bộ đó, quan.niệm về rome rừng thâm canh cũng được hoàn thiện hơn.
Từ phương thức canh tác truyền thống, trồng rừng với các biện pháp kỹ thuật thông thường, đầu tư thấp (trồng rừng quảng canh), chuyển sang đầu tư áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất rừng trồng (trồng rừng bán thâm canh) vàđến thời gian gần đây đã quan tâm đầu tư trồng rừng theo hướng hà canh để nâng cao năng suất cây trồng. Theo Nguyễn Xuân Quát (999) “Trẳng rừng thâm canh là một phương thức canh tác đựa trên cơ sở đầu m cao; bang việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp liên hoàn. Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ Sinh trưởng củ panes thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá t se hạ Bị quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và cải thiện được tiềm trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng nhu câu phát triển rắn my, định, lâu dài và bằn vững '”. Từ những vấn để mang tính lý luận và thực tiễn của trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng trong những năm qua cho thấy rằng việc nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng bằng giống đã được cải thiện, chọn lập địa phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên tiến đang là đòi hỏi cấp bách.
Nghiên cứu vỀ tre trúc 1. Trên thế giới Tre trúc là đối tượng nghiên cứu từ rất lâu đời trên thế giới, có thể liệt kê một vài công trình nghiên cứu theo thời gian như sau: Tre trúc là đối tượng nghiên cứu khoa học từ v1 lau trên thế giới. Có thể coi tác phẩm “Nghién cứu về Bambusaceae” của tác giả Munro xuất bản năm 1868 là công trình đầu tiên nghiên cứu về đối tượng này. Sau đó, là tác phẩm “Các loại Bambusaceae của Ấn Độ” do tác giả Gamble xuat bản năm 1896.
Tác giả cho biết chỉ tiết về 151 loài 3 có ở Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Miến Điện, Malaixia, Indonesia. \ Brendis đã công bố tác phẩm “Những bài học nhỏ về sinh lý tre nứa Ấn Độ” năm 1899. Troup đã thâu tóm tất cả những hiểu biết về tre trúc của con người đến năm 1920 vào tác phẩm *Phương pháp xử lý về lâm học đối với cây rừng Ấn Độ". Có thể nói công tác nghiên cứu về sinh thái tre nứa đã được bắt đầu từ thời Gamble, Brandis Troup.” Một tác phẩm CHẾ bi nhiều thông tin về tre trúc là tác phẩm “Rừng tre tric” cia IJ.Aung Din đã được FAO xuất bản năm 1959, Tổng CÀ Lâm nghiệp Việt Nam dịch và xuất bản năm 1963.
Trong tác phẩm nấy, các táo đã tổng kết được nhu cầu sinh thái học của tre trúc nói chì Một trong việc ki cua Koichiro Ue vàn cứu cơ bản về tre trúc có ý nghĩa quan trọng ợng này là tác phẩm “Nghiên cứu sinh ý tre trúc” ai rừng thí nghiệm Trường đại học Tokyo — Nhật Bản, xuất bản tháng 4 năm 1960 và được Vuong Tan Nhị dịch, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật xuất bản năm 1976. Tác giả đã công bố trên thế giới có 1250 loài thuộc 47 chỉ của họ Bambusaceae. Sau 10 năm nghiên cứu, với sự cộng tác đắc lực của các cộng sự, tác giả đã điều tra được tre trúc có ở các nước thuộc Châu Á (37 chỉ), Châu Phi (10 chỉ), Châu Úc (6 chỉ). Trong đó, Đông Nam Á 7 được coi là trung tâm của tre trúc.
Tác giả không gặp được loài nào có nguồn gốc từ Châu Âu và có rất ít là loài bản địa ở Châu Úc. Tác giả đã phân loại tre trúc dựa vào tập tính bong, rụng mo của tre trúc trên phần thân khí sinh. Ngoài ra, tác giả còn tập chung nghiên cứu đặc tính sinh sản của tre trúc và đi đến kết luận: “.