Chương 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về sinh khí Sinh khối là kết quả của quá trình sinh tổng hợp vật chất hữu cơ trong. „ bao gồm tông trọng lượng của các bộ phận thân, cảnh, lá, hoa, quả, rễ ở trên mặt đất và đưới mặt đất. Sinh khối là tổng chất hữu cơ có được trên một đơn vị di tích tại một thời điểm và được tính ự tẳn/ha theo trọng lượng khô (Viên Ngọc Nam, 2007).
Vì vậy, việc nghiên cứu sinh khối trong lâm nghiệp là rất cần thiết, là căn cứ xác định lượng CO2 mà cây rừng hap thụ, góp phần đánh giá chất lượng rừng để có biện pháp quản lý và sử dụng rừng. một cách có hiệu quả. Nghiên cứu về sinh khối trên thé ‘Theo OngJ. và cộng sự (1983), trong "Cảm nang các phương pháp.
nghiên cứu năng suất hệ sinh thái rừng ngập mặn” thì việc tính toán sinh khối cây rừng trên mặt dat thường được tính gián tiếp bằng cách xây dựng phương. trình tương quan giữa D¡ › với sinh khối khô các bộ phận của cây (Viên Ngọc Nam, 2003) [I6] Christensen B. (1997), đã nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cap của rừng Đước ở đảo Phuket trên bờ biển Tây, Thái Lan. Kết quả cho thấy tổng.
lượng sinh khối khô trên mặt dat của rừng 15 tuổi là 159 tắn/ha. trưởng hàng năm tính cho toàn bộ thân, cảnh, lá và rễ ước tính khoảng 20 tắn/ha/năm. Tổng năng suất sinh khối khô ước tính là 27 tắn/ha/năm. Tác giả cũng đã so sánh lượng vật rụng của rừng ngập mặn và rừng mưa nhiệt đới thì thấy lượng vật rụng hàng năm của rừng ngập mặn cao hơn so với rừng mua nhiệt đới do rừng nhỏ tuổi hơn và sinh trưởng nhanh hơn [33] Lu (2006), đề cập đến ba phương pháp tiếp cận để đánh giá sinh khối là điều tra đo đếm, sử dụng ảnh viễn thám và phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống thông tin địa lý GIS.
Trong đó, phương pháp điều tra đo đếm được coi là chinh xác (Lu, 2006), nhưng rat tốn kém va mắt thời gian (De Gier, 2003). Trong cả ba phương pháp tiếp cận này, dữ liệu mặt đất là quan trọng để xác nhận. Trong trường hợp sử dung ảnh viễn thám, dữ liệu mặt đắt là cần thiết để xây dung mô hình tiên đoán. Thông thường, quy trình chọn cây mẫu là ngẫu nhiên, đo đếm các chỉ tiêu cây (chẳng hạn như đường kính thân cây ở vị trí ngang ngực hoặc chiều cao cây) và các mẫu để đo sinh khối cây, sau đó xây dựng phương trình sinh khối bằng cách sử dụng số liệu từ sự đo đếm và phương trình sinh khối này được sử dụng để ước tinh sinh khối cây [27; 36].
Tiêu chuẩn carbon VCS (Module VMD0001) 2010 đã đưa ra hệ số chuyển đổi sinh khối (BEF) dé tính sinh khối trên mặt đất của cây rừng tự nhiên mà không được chặt hạ cây để lấy mẫu như sau: - Hệ số (BEF) = 1,38 cho các cây có đường kính từ 20 - 40 cm. - Hệ số (BEF) = 1,33 cho các cây có đường kính từ 40 - 80 cm. Nghiên cứu về sinh khốiở Việt Nam Viên Ngọc Nam (2003) đã nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp. quan thé Mam trắng (Avicennia alba BL.) tự nhiên tại Cần Giờ, Thanh phố.
Hồ Chí Minh. Tác giả bố trí 4 tuyến điều tra, mỗi tuyến bố trí 5 ô éu chuẩn có diện tích 100 m” (10 m x 10 m), mỗi 6 tiêu chuẩn chia thành 4 ô nhỏ có diện tích 25 m? (5 m x 5 m) và đo tắt cả các cây có Dis > 3 em trong 6. Tác giả đã chặt 28 cây có D, từ nhỏ đến lớn, phân theo các bộ phận và cân trong lượng. Kết quả nghiên cứu đã tính được tổng sinh khối, lượng tăng trưởng.
sinh khối, năng suất vật rung, cũng như năng suất thuần của quần thé Mắm. trắng trồng tai Cin Giờ. Tác giả đã mô tả mối tương quan giữa sinh khối các bộ phận Mim trắng với đường kính bằng dạng phương trình log W = a + blog Dị › và cũng lập ra được bảng tra sinh khối cây cá thể loài Mắm trắng [16] Lê Minh Lộc (2005), nghiên cứu về phương pháp đánh giá nhanh sinh khối và ảnh hưởng của độ ngập sâu lên sinh khối rừng Trim (Melaleuca cajuputi) tại khu vực U Minh Hạ, tinh Ca Mau. Tác giả bố trí thí nghiệm trên rừng Trim tuổi 5, 8 và 11 đang sinh trưởng trên hai loại đất than bùn và đắt phén, Độ sâu ngập nước được lựa chọn là từ thấp hơn 30 cm, từ 30 - 60 cm và xâu hơn 60 em tương ứng với thời gian ngập là 4 tháng/năm, 4 - 7 thắng/năm và trên 7 tháng/năm.
Phương pháp điều tra kết hợp với phân tích so sánh đã được sử dụng trong quá trình thực hiện. Tác giả đã xây dựng phương pháp đánh giá nhanh sinh khối rừng bằng một mô hình toán học giữa sinh khối tươi va khô của các bộ phận trên mặt đất của cây Trim (thân, cảnh, lá) trên đất than bin và đất phèn với đường kính thân cây ở vị trí ngang ngực. Tác giả cũng phân tích ảnh hưởng của chế độ ngập nước và loại đất đến sinh khối tươi. và khô của các thành phần trên mặt đất của rừng Tràm.
Tổng sinh khối phần. trên mặt đắt của rừng Trim có thé tinh toán bằng một ham số hoặc biểu sinh khối: Tong sinh khôi = a x DBH? (a = 0,258;b = 2,352) [14]. Nguyễn Thị Hà (2007), khi nghiên cứu sinh khối loài Keo lai (Acacia cauriculiformis) tuôi 3, 5 và 7 trồng tại Thành phố Hồ Chí Minh trên hai bể carbon quản thé Keo lai va san rừng, Tác giả đã lập 6 tiêu chuẩn với diện tích. 500 m* theo phương pháp 6 ngẫu nhiên tạm thời đại diện cho các tuổi và chia ây thành 5 thành phần có chiều đài bằng nhau, để riêng các bộ phận thân, cảnh, lá để xác định sinh khối tuoi và lấy mẫu.
Kết quả cho thấy sinh khối tươi cây cá thể biến động từ 5,8 - 445 kgícây, trong đó thân chiếm 79,6 %, cành 12,2 % và lá 8,2 %. Sinh khối khô cây cá thể đạt 3,12 - 245 kg/cây, trong đó thân chiếm 78,64 %, cảnh chiếm 15,85 % và lá 5,51 % Tác giả cho rằng lượng CO; hấp thụ ting dẫn theo kích thước, sinh khối cũng như trừ lượng rừng. Trung bình cây có đường kính khoảng 11,76 em th tích lay được. 31,85 kg carbon trong sinh khối, tương đương 116,9 kg CO; [8] Cao Huy Bình (2009), với 'ghiên cứu khả năng hap thụ CO; của quần thể Da quảnh (Ceriops decandra Dong Hill) tự nhién tai Khu Dự trừ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hỗ Chí Minh”, Tác giả đo đếm.
trên 6 tiêu chuẩn 100 mẺ (10 m x 10 m), điều tra giải tích 40 cây ngã để tinh sinh khối rừng. Kết quả tổng sinh khối trung bình của quần thể Dà quánh là. 11,45 + 3,89 tắn/ha, biến động trong khoảng 22,92 - 61,92 tắn/ha [3]. Vo Đại Hải (2010), trong nghiên cứu về ‘Kha năng hap thụ và giá trị thương mai carbon của một số dạng rừng tring chủ yếu ở Việt Nam” đã đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa sinh khối của 8 loại rừng trồng (Thông vĩ ma, Thông nhựa, Thông ba lá, Keo lá trim, Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đản Urophylla, rừng Mỡ) với các nhân tố điều tra như đường kính, chiều cao, mat độ cây, cấp đất là có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Mỗi dạng rừng, tác giả bố trí 12 ô tiêu chuẩn (còn gọi là ô sơ cấp), diện tích 1.000 m° trên một cấp đi và tông số 6 tiêu chuẩn cho một loài là 48 6. Tại mỗi 6 sơ cấp, lập 5 ô thứ cấp, diện tích 25 m?/ô dé điều tra cây bụi, thảm tươi va tại trung tâm mỗi ô thứ cấp. lập một 6 dạng bản, điện tích 1 m? để điều tra vật rơi rụng. Các phương trình tương quan được tác giả lập đều có hệ số tương quan ở mức chặt đến rat chặt, sai tiêu chuẩn của các phương trình thấp.
Tác giả cũng đã sử dụng các 6 tiêu chuẩn không tham gia tính toán để kiểm tra sai số của các phương trình, kết quả đều nhỏ hon 10 %. Do đó, có thể sử dụng ic phương trình này để xá định nhanh sinh khối của từng loại rừng trồng theo từng cấp đất hoặc chung. cho các cấp đất dựa vào các nhân tổ điều tra để đo đếm [9]. Nhin chung, các công trình nghiên cứu về sinh khối của các tác giả trên đều đã xây dựng được các mô hình tương quan giữa sinh khối với đường kính tại vị tí 1,3 m của cây cá thể, từ đó tính cho quần thể.
Trong béi cảnh hiện nay, vấn để nghiên cứu kha năng tích ty carbon của rừng Tràm ở Vườn Quốc. gia Trim Chim nhằm góp phần cung cấp thông tin, hiểu biết về sinh khối và khả năng tích tụ carbon của rừng là cần thiết, làm cơ sở cho việc thực hiện chỉ trả dich vụ môi trường rừng theo Nghị định của Chính phủ. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO: 1. Một số vấn đề liên quan đến lấp thụ CO: Các khu rừng nhiệt đổi là nơi tích trữ nhiều carbon nhất, bởi các khu rừng này sinh sôi mạnh nhất và cây cối phát triển nhiều nhất.
nhiệt đới, những thân cây chết nhanh chóng phân hủy và khí carbonic phát thai vào bau khí quyền thông qua quá trình hô hap của cây. Ngược lại, ở những khu rừng ôn đới Am, nhiệt độ đủ Am để giữ nhịp độ tăng trưởng tốt cho cây, nhưng phan cây chết lại phân hủy chậm hơn nhiều và những sinh khối. chết chứa nhiều carbon tồn tại lâu hơn. Theo ước tính, hoạt động trồng rừng va tái trồng.
rừng trên thé giới có ty lệ hap thy CO: ở sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất là 04 - 1,2 tắnfha/năm ở ving cực bắc, 1,5 - 4,5 tắn/ha/năm ở ving ôn đới, 4 - 8 tắn/ha/năm ở các vùng nhiệt đới (Dixon và ctv, 1994; IPCC, 2000) 127; 35] Zech và cộng tác viên (1989), ước lượng rằng diện tích trồng rừng cần thiết để hấp thụ CO; mà còn thừa ra và thai vào không khí hang năm là 800 triệu ha và để thay thé nhiên liệu hóa thạch thì cần diện tích rừng tương ứng từ 1. Brown và cộng tác viên (1997) đã ước lượng, tổng lượng carbon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thé hap thụ tối đa trong vòng 55 năm (1995 - 2050) là vào khoảng 60 - 87 Gt C, với 70 % ở rừng nhiệt đới, 25 % ở rừng ôn đới và 5 % ở rừng cực bắc.