mở đầu trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn của các hệ sinh thái. Không chỉ là nguồn thức ăn, thực vật còn là nơi sống, nơi sinh sản, nơi trú ẩn, giá thể của nhiều loài sinh vật khác. Sự tồn tại của thảm thực vật chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững và tiến hoá của sinh giới. Chính vì thế, trên thế giới việc nghiên cứu hệ thực vật đã có từ rất lâu, vì loài người khi mới xuất hiện đã tiếp xúc với thiên nhiên và đặc biệt là đã biết sử dụng thực vật như một nguồn chính trong cuộc sống hàng ngày, dần dần sự hiểu biết và nghiên cứu về thếgiới thực vật ngày càng nhiều.
Cách đây khoảng hơn 3000 năm trước công nguyên khởi đầu là ở Ai Cập cổ đại khi con người biết sử dụng cây cỏ. Lúc này các công trình nghiên cứu hệ thực vật khởi đầu bằng công việc quan sát và mô tả (theo [38]). Năm 371 - 286 trước công nguyên, Phraste là người đầu tiên đề ra phươngphápphân loại và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo của thực vật trong 2 tác phẩm: “Cơ sở thực vật” và “Lịch sử tự nhiên của thực vật”; tác giả đã mô tả được 500 loài cây khác nhau (theo [38]). Ở thế kỉ I sau công nguyên, trong tác phẩm “Materia media”, Dioscoride - người Hi Lạp (20 - 60) đã nêu lên đặc tính của gần 500 loài cây (theo [9]).
Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật, ngành thực vật học từ thế kỷ XV-XVI cũng có sự phát triển. Thời kỳ này xảy ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của thực vật học đó là: thành lập vườn bách thảo (thế kỷ XV-XVI), sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI, biên soạn cuốn “Bách khoa toàn thư về thực vật”. Từ đây xuất hiện các công trình như: Andrea Caesalpino (1519 - 1603) đã đưa ra bảng phân loại đầu tiên và 3 được đánh giá cao; John Ray (1628 - 1705) mô tả được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn “Lịch sử thực vật” (theo [20]). Các công trình nghiên cứu tập từ thế kỷ XVI - XVIII, trung chủ yếu vào việc mô tả, định tên và hệ thống các loài, đồng thời cũng xác định được thành phần của thảm thực vật từng vùng.
Nổi bật là các công trình nghiên cứu sau đây: Công trình nghiên cứu của nhà tự nhiên học Thụy Điển Linnée (1707-1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật. Bên cạnh đó, ông đã mô tả được khoảng 10 nghìn loài cây thuộc 1000 chi, 116 họ và sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định (theo [20]). Vào thế kỉ XIX - XX, nhiều công trình nghiên cứu về thực vật xuất hiện ngày càng nhiều và có giá trị như: Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật Ấn Độ (7 tập, 1872 - 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaixia (1922 - 1925), Thực vật Hải Nam (1972 -1977), Thực vật chí Vân Nam (1977) (theo [35]). Việc nghiên cứu hệ thực vật phát triển mạnh vào thế kỉ XIX, mỗi Quốc gia có một hệ thống phân loại riêng và các cuốn thực vật chí lần lượt ra đời: Ở Mỹ có hệ thống Besei, Dulle, ở Nga có hệ thống của Kursanov, Takhtajan, Kuznetxov, Bouch, Anh có hệ thống Hutchison, Rendle, Đức có hệ thống Engler, Metz.Năm 1993, Walters và Hmilton thống kê được trong các tác phẩm ở hai thế kỷ qua đã có 1,4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và đặt tên.
Các nghiên cứu cũng cho thấy đến nay ở vùng nhiệt đới đã xác định được khoảng 90 nghìn loài, trong khi đó ở vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu Á đã có 50 nghìn loài được xác định, điều đó chứngtỏ hệ thực vật ở rừng nhiệt đới rất đa dạng và phong phú (theo [38]). Về sau các công trình nghiên cứu về thực vật không chỉ dừng lại quan sát và mô tả, mà còn đi sâu hơn nữa như: tìm hiểu công dụng của thực vật nhằm phục vụ cho mục đích về chữa bệnh, lương thực, thực phẩm. của con người. Tuy nhiên khi hiểu rõ được vai trò của thực vật thì tiềm năng của thực 4 vật ngày càng bị khai thác cạn kiệt.
Chính vì vậy diện tích rừng ngày càng giảm sút, tài nguyên thực vật ngày càng suy thoái và có những loài đã, đang và có nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy, hơn lúc nào hết việc nghiên cứu đa dạng thành phần loài thực vật, bảo vệ rừng là cấp bách và cần thiết. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thực vật ra đời nhằm nắm bắt được xu hướng diễn thế của thực vật rừng và tìm được sự đa dạng thành phần loài thực vật. Khi nghiên cứu “Đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy” tại Xishuangbanna (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), tác giả Long Chun - Lin và cộngsự (1993) đã cho biết sự thay đổi thành phần loài thực vật qua quá trình diễn thế từ 1 năm đến 19 năm và sự thay đổi các loài ưu thế qua từng năm bỏ hoá.
Thời gian bỏ hóa càng dài thì thành phần loài thực vật ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn [43]. Khi nghiên cứu khả năng tái sinh của thảm thực vật sau canh tác nương rẫy từ 1 đến 20 năm ở Tây Bắc Ấn Độ, Ramaksishman (1981, 1992) đã cho biết, chỉ số đa dạng loài diễn ra rất thấp, đầu tiên là ở rừng tái sinh 5 năm đến 10 năm, nhưng sự tăng của 10 năm sau đó sẽ ít hơn. Chỉ số loài ưu thế lại trái ngược lại là đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm xuống rõ rệt với thời kỳ bỏ hoá. Sự tái sinh của những loài thực vật khác nhau có thể thay đổi phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ canh tác nương rẫy, thành phần loài và cấu trúc của thực vật trước khi chặt cho canh tác [44], [45].
Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (2000) đã đưa ra số liệu đến năm 2009 trên thế giới đã thống kê được 1.000 loài sinh vật, trong đó thực vật bậc cao đã có 250.000 loài (số loài ước tính khoảng 300. Như vậy lợi ích của thực vật là vô cùng to lớn không gì có thể thay thế được. Vì vậy, hệ thực vật là một đề tài nghiên cứu nhằm bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế cho các ý tưởng, các công trình nghiên cứu. Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Bước sang thế kỷ XX, nghiên cứu thực vật ở Việt Nam mới phát triển.
Tuy nhiên, từđầuthế kỷ cho đến giữa thế kỷ XX các công trình nghiên cứu 5 chủ yếu là của các tác giả nước ngoài. Phải nói rằng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Song, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thống kê thành phần loài và đưa ra giá trị sử dụng của một số loài như dược liệu, gỗ. Những công trình nghiên cứu của các tác giả là người Việt Nam bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XX.
Một trong các công trình nghiên cứu lớn nhất về quy mô cũng như giá trị đó là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” gồm 7 tập chính và sau còn được bổ sung thêm bằng những tập phụ do H. Lecomte chủ biên (1907 - 1952). Với công trình nghiên cứu lớn này, tác giả người Pháp đã thu thập và thốngkê được có khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch từ Dương xỉ tới thực vật Hạt kín ở Đông Dương. Bộ tài liệu “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã trở thành nguồn tư liệu quý và rất giá trị cho những nghiên cứu về hệ thực vật có mạch của Đông Dương nói chung và của Việt Nam nói riêng [50].
Năm 1960 - 1966 bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam” do Aubreville chủ biên với 29 tập đã bổ sung thông tin cho 74 họ thực vật có mạch của Đông Dương [49]. Năm 1965, Pocs Tamas dù không nghiên cứu về thực vật miền Bắc nhưng đã theo dẫn liệu ghi trong bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” thống kê được phía Bắc Việt Nam có khoảng gần 5.200 loài thực vật, tác giả cũng đã phân tích cấu trúc hệ thống, các yếu tố địa lý và các dạng sống của hệ thực vật này [51]. Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, thì các tácgiả trong nước cũng đã có những nghiên cứu rất có giá trị về thực vật. Theo hướng thống kê số loài thực vật của từng vùng ở Việt Nam, phải kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Với công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” (1963 - 1978), Thái Văn Trừng đã thống kê được ở Việt Nam có 7.004 loài thuộc 1850 chi và 289 6 họ.
Trong đó, ngành Hạt kín có 6.727 chi và 239 họ. Ngành Hạt trần chỉ có 39 loài, 18 chi và 8 họ. Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra quan niệm về sinh thái phát sinh quần thể thực vật; chỉ số khô hạn; chế độ mưa ẩm; bảng xếp loại các “Sinh vật khí hậu” và “Đất thực vật”; đưa ra hệ thống thảm thực vật rừng với 14 kiểu quần thể rừng khác nhau và cuối cùng là đưa ra bản đồ thảm thực vật [38]. Lê Khả Kế (1969- 1976) và các cộng sự đã hoàn thành và xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập [20].
Cũng trong thời gian này tác giả Phạm Hoàng Hộ cho xuất bản tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” đã công bố 5.246 loài thực vật bậc cao [16]. Năm 1999 - 2000, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản 3 tập “Cây cỏ Việt Nam”. Trong các cuốn sách của mình, ông đã mô tả và vẽ hình 10.500 loài thực vật có mạch ở Việt Nam. Theo dự đoán của ông số lượng các loài thực vật còn có thể lên tới 12.
Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp, chỉnh lý tên các loài thực vật theo hệ thống Brummitt (1992) và đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện đã biết có 11.582 chi và 395 họ thực vật bậc cao [32]. Khi nghiên cứu một số đặc điểm của khu hệ thực vật Việt Nam, Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) đã chỉ ra 10.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật [7]. Năm 2005, Nguyễn Tiến Bân đã thống kê trên phạm vi cả nước và đi đến kết luận hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan chiếm số lượng lớn với 10. Bêncạnh đó, còn có những bộ sách của các tác giả như: Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [24], Vu Van Dung et al.