MỞ ĐẦU 1. Đặt vần đề Việt Nam với chiều dài bờ biển hơn 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10km), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc - Đông Nam và vòng cung. Hai hệ thống sông lớn nhất là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước [39]… đã tạo nên các hệ sinh thái đất ngập nước, ven sông hết sức đa dạng và phong phú.
Sông Vàm Cỏ Tây (VCT) là một trong hai nhánh của hệ thống sông Vàm Cỏ (Vàm Cỏ Đông – Vàm Cỏ Tây) dài 196km, bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua vùng phía Đông Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm tỉnh Long An và một đoạn nhỏ tỉnh Tiền Giang. Đoạn sông chảy qua tỉnh Long An dài 185km chảy qua các huyện Vĩnh Hưng, thị xã Kiến Tường, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, thành phố Tân An, Tân Trụ và Châu Thành. Sông Vàm Cỏ Tây được xem nằm trọn trong vùng ĐBSCL là phụ lưu của sông Vàm Cỏ và xa hơn là hệ thống sông Đồng Nai. Sông có nguồn là vùng trũng thấp ở tỉnh Svey Rieng, Campuchia.
Tuy nhiên do ăn thông với sông Tiền qua các kênh như Hồng Ngự, Đồng Tiến… cũng như thông với các vùng trũng của sông Mê Kông nên sông Vàm Cỏ Tây nhận một lưu lượng nước khá lớn từ sông Mê Kông. Mặt khác, sông chịu ảnh hưởng của nguồn nước chua phèn của vùng Đồng Tháp Mười nên thường nhiễm phèn vào cuối mùa khô đầu mùa mưa. Về địa hình, lòng sông có độ dốc thấp nên vào mùa kiệt thủy triều có thể ảnh hưởng đến tận đập Bình Châu. Như vậy, sông VCT là một lưu vực hết sức đặc biệt, là nơi giao thoa của hai hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Mê Kông đã tạo nên thảm thực vật đặc trưng cho vùng Đồng Tháp Mười.
Mặt khác, quá trình tương tác giữa biển và vùng nội đồng của lưu vực sông đang diễn biến khá phức tạp, quá trình sạt lở hai bên bờ sông do việc khai thác quá mức đất ven sông (làm nhà ở, làm ruộng, nuôi cá bè…), giao thông đường thủy, đặc biệt là tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (BĐKH) làm cho mực nước biển dâng. Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH trên thế giới, theo báo 2 cáo của Bộ Tài nguyên – Môi trường ngày 20/8/2009 (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008) 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm[39], ảnh hưởng rất lớn đến đa dang sinh học của thảm thực vật trên sông VCT và sự phân bố thành phần các loài thực vật trên sông từ hạ nguồn lên thượng nguồn. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố thực vật ven sông Vàm Cỏ Tây” nhằm khảo sát cũng như đánh giá thực trạng thảm thực vật vùng từ đó cung cấp đầy đủ những dẫn liệu về sự đa dạng của hệ thực vật ven sông Vàm Cỏ Tây, cũng như giá trị tài nguyên của nó, giúp các cơ quan quản lý có cơ sở khoa học trong việc qui hoạch, bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các nghiên cứu vế BĐKH ở hiện tại và trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định thành phần loài thực vật hiện có ở trên sông VCT.
- Đánh giá ảnh hưởng của nước biển dâng do BĐKH đến sự phân bố và phát tán một số loài thực vật ven sông VCT. Nội dung nghiên cứu - Khảo sát, đo đạc một số nhân tố môi trường (độ ngập nước, pH nước, tính chất thể nền, độ mặn và thành phần cơ giới đất) ảnh hưởng đến sự phân bố các loài. - Thu mẫu, chụp hình, phân loại và làm tiêu bản khô thành phần loài thực vật trên sông. - Mô tả hình thái và công dụng của một số loài thực vật có ở vùng nghiên cứu.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Chỉ nghiên cứu các loài thực vật bậc cao (ven sông và dưới nước) trên sông Vàm Cỏ Tây. - Thực hiện tiêu bản khô của một số loài thường gặp. Ý nghĩa đề tài Góp phần bổ sung dữ liệu về thực vật ven sông và ảnh hưởng của BĐKH đến sự phân bố thực vật. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Những nghiên cứu trên thế giới về thực vật trên sông Vấn đề đất ngập nước (ĐNN) đã được đề cập trên thế giới từ khoảng đầu thế kỷ XX. Các nước Thụy Điển, Canada, Hoa Kì, Hà Lan… đã có lịch sử nghiên cứu về đất ngập nước khoảng gần một thế kỷ nay. ĐNN có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cư. Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thuỷ vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990)[20].
Do nhận thức được những giá trị to lớn mà ĐNN mang lại nên vào những năm 70 của thế kỷ XX, đất ngập nước đã trở thành vấn đề toàn cầu, được các tổ chức quốc tế quan tâm và mở rộng các hoạt động có liên quan. Vào ngày 02/02/1971 tại thành phố Ramsar của nước cộng hòa Iran, các quốc gia trên thế giới đã tham gia ký công ước quốc tế về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, gọi tắt là Công ước Ramsar [3]. Trong hệ thống phân loại của ĐNN trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì ĐNN bao gồm cả sông suối và cửa sông ven biển. Từ đây, một loạt các công trình nghiên cứu về thực vật đất ngập nước nói chung và thực vật đất ngập nước ven sông và cửa sông ven biển nói riêng đã được tiến hành.
Christiane Hudon ( 1997), đã báo cáo đề tài “Impact of water level fluctuations on St. Lawrence River aquatic vegetation”. Tác giả đã nghiên cứu thảm thực vật trên sông St. Lawrence, Canada dưới tác động biến động của mực nước, chính mực nước sẽ quyết định đến thành phần thảm thực vật [28].
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (2006) đã xuất bản tài liệu về các loài ngoại lai xâm hại ở vùng đất ngập nước ở khu vực sông Mê Kông gồm các nước: Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam. Tài liệu cho biết ở Việt Nam có 4 loài thực vật ngoại lai xâm hại là: Lục bình (Eichhornia crassipes), Mai dương (Mimosa pigra), Cỏ ống (Panicum repens) và Bèo cái (Pistia stratiotes) [2]. Các nhà khoa học Trung Quốc Y. Chen (2006) nghiên cứu sự ảnh hưởng của mực nước ngầm đến sự đa dạng loài thực vật dọc theo hạ lưu của sông Tarim.
Trong đó chứng minh được khi mực nước ngầm suy giảm thì các loài thực vật trở nên kém đa dạng, cấu trúc thảm thực vật đơn giản hơn. Các chỉ số đa dạng và phong phú cũng giảm theo tương ứng mực nước ngầm [34]. Korschgen và cộng sự (1988), Stafford và cộng sự (2007), Anderson (1986), Chilton (1990), Dewey và cộng sự (1997), Flinn và cộng sự ( 2005), Darrah và Krementz (2009) nghiên cứu về vai trò của thảm thực vật ở thượng nguồn sông Mississippi (Hoa Kì) đối với các loài chim nước, động vật không xương sống, cá và động vật hoang dã. Trước đó, Green (1947), Green (1960), Sohmer (1975), Eckblad và cộng sự (1977), Clark và Clay (1985), Donnermeyer và Smart (1985) đã khảo sát rất kĩ thảm thực vật ở đây.
Bao gồm các loài thực vật thủy sinh, rừng tự nhiên và rừng trồng [41]. Teresa Ferreira và Francisca C. Aguiar (2006) nghiên cứu về thực vật ven sông và thủy sinh ở các suối vùng Địa Trung Hải, phía tây Iberia cho thấy sự quan trọng và đa dạng của các quần xã thực vật, thảm thực vật đối với vùng Địa Trung Hải. Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài thực vật khá đa dạng và phong phú, thông qua việc đánh giá tính đa dạng thực vật làm cơ cho việc đánh giá các biến động về thủy văn và khí hậu của vùng [32].
S (2009) đưa ra các mô hình về sự đa dạng các loài thực vật ngập nước trên sông phân bố theo độ mặn. trong đó tác giả nghiên cứu thảm vật ở các khoảng độ 5 mặn khác nhau và kết luận rằng vùng chuyển tiếp nước lợ là nơi có độ đa dạng cao nhất [33]. Thành phần loài thực vật ven sông Moyar, Ấn Độ (2012) đã được nghiên cứu. Các tác giả ghi nhận có 131 loài thực vật thuộc 45 họ trên sông Moyar, Ấn Độ.
Trong đó cây gỗ chiếm 78% , bụi chiếm 17,5% và dây leo chiếm 4,5% thành phần loài [29]. (2013) nghiên cứu về các quần xã thực vật dọc theo sông Eerste, Western Cape, Nam Phi. Đề tài ghi nhận được 10 quần xã thực vật khác nhau như: quần xã Cunonia capensis–Brachylaena neriifolia, quần xã Brabejum stellatifolium–Metrosideros angustifolia, quần xã Sporobolus africanus– Stoebe plumosa community. Xác định các loài bản địa và ngoại lai nhằm đánh giá thảm thực vật ven sông phục vụ cho các nghiên cứu khác [31].
Những nghiên cứu trong nước về thực vật trên sông Việc nghiên cứu thành phần loài và thảm thực vật ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được Phùng Trung Ngân và cộng sự công bố (1989). Kết quả của đề tài cho thấy thảm thực vật nguyên thuỷ của ĐBSCL là quần hệ rừng dày ẩm nhiệt đới vùng gió mùa. Do tác động của con người hiện chỉ còn các quần thể thứ sinh nhân tác bao gồm hai loại chính: quần thể thực vật tự nhiên vùng hoang hóa và quần thể thực vật vùng canh tác [21]. Năm 1992, Phạm Hoàng Hộ và cộng sự thực hiện Chuyên khảo về Đồng Tháp Mười tài nguyên thực vật đã kiểm kê được 592 loài thực vật sống trong môi trường nước phèn, lợ và nước ngọt với 130 họ thực vật [17].
Thành phần loài và thảm thực vật ở tỉnh Tiền Giang được nghiên cứu và chia thành các loại: + Rừng ngập mặn ven biển: bao gồm quần thể thực vật phía Đông của tỉnh, ven biển vùng Gò Công. Càng đi về phía biển, chủng loại thực vật tương đối đơn điệu; càng đi về phía đất liền, chủng loại thực vật phong phú hơn. Đáng kể nhất là loài Dừa nước (Nypa fructicans), họ Cau Dừa (Arecaceae) mọc nơi đất trũng, ven biển, các cửa sông xen lẫn với các loại cây nhỏ thuộc họ Ô rô (Acanthaceae), Lức (Pluchea indica), Muống biển (Impomaea pes-caprae). Ven biển Gò Công còn có các loại cây họ Đước (Rhizophoraceae) như: Vẹt (Bruguiera parviflora), Đước 6 xanh (Rhizophora mucronata), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) như Mấm (Avicennia).