MỞ ĐẦU Hệ sinh thái vùng triều là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, có vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển kinh tế ven biển với nhiều sinh cảnh và loài thủy sản có giá trị [1], [2], [3]. Động vật thân mềm (ĐVTM) là nguồn tài nguyên quan trọng của hệ sinh thái vùng triều, nó được sử dụng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho một số loài thủy hải sản khác, đồ trang trí, vật liệu xây dựng, v. Trong ngành ĐVTM, lớp chân bụng (Gastropoda) là lớp có số lượng loài nhiều nhất và chúng phân bố trong nhiều sinh cảnh khác nhau như trên cạn, nước ngọt, nước lợ, và biển. Tuy vậy, đa số các loài thuộc lớp này sống trong môi trường biển [7].
Ở Việt Nam, ĐVTM ở biển khá đa dạng với khoảng hơn 2.200 loài, trong đó có khoảng hơn 1.300 loài chân bụng (Gastropoda) và 815 loài hai mảnh vỏ (Bivalvia) [8], [9]. Trong đó, nhiều loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế được nuôi trồng và khai thác rộng rãi các vùng biển của Việt Nam [10], [11], [12], [13], [14], [15]. Tomlinia frausseni Nguyen, 2014 (tên địa phương ốc Cà na, ốc Cau, ốc Nho) là loài thứ 2 được công bố trong giống Tomlinia trên thế giới [16] và đây là loài mới và đặc hữu của Việt Nam [17], [18], [19]. Chúng phân bố ở độ sâu 1 – 10 m trên nền đáy bùn trong khu vực vùng triều.
Trong vài năm trở lại đây, ốc Cà na được ghi nhận xuất hiện trên vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặc biệt là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh. Tại Trà Vinh, ốc Cà na được người dân khai thác, trao đổi và mua bán khá phổ biến ở các chợ địa phương. Nghề khai thác ốc Cà na đã góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho các ngư dân ven biển. Đến thời điểm hiện tại, bởi là loài mới đặc hữu cũng như mới xuất hiện nhiều tại vùng ven biển ĐBSCL nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng nên chưa có nghiên cứu nào liên quan đến các đặc điểm sinh học, sinh thái, quần thể và nguồn lợi loài ốc này.
Nhằm góp phần tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái, phát triển và khai thác bền vững nguồn lợi ốc Cà na, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh” được đề xuất thực hiện. Kết quả của nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở cho việc quản lý và khai thác hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên này. 2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái và cấu trúc quần thể ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đề ra, nội dung của nghiên cứu này bao gồm: - Đánh giá một số đặc điểm sinh học, sinh thái học ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh.
- Đánh giá một số đặc điểm cấu trúc quần thể ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh. - Đánh giá đặc điểm phân bố, hiện trạng khai thác và nguồn lợi ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh. Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung và làm rõ thêm những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái, và cấu trúc quần thể ốc Cà na khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý thủy sản trong việc bảo vệ, quản lý, và khai thác một cách hiệu quả và bền vững loài ốc Cà na trong khi cân bằng với lợi ích của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Trà Vinh nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung.
Cung cấp số liệu mới cũng như là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm sinh học, sinh thái, và quần thể ốc Cà na vùng ven biển tỉnh Trà Vinh nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung. SINH HỌC, SINH THÁI HỌ ỐC NASSARIIDAE VÀ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ỐC CÀ NA T. Một số đặc điểm sinh học và sinh thái họ Nassariidae Họ Nassariidae gồm có 8 họ phụ [20]. Các loài thuộc họ Nassariia có vỏ ốc hình trứng tròn, thường có 1 vòng xoắn khá lớn hình nón và vòng xoắn thân rộng bởi đường rãnh xoắn ốc sâu, phân biệt rõ rệt.
Bề mặt ngoài có hoa văn với các gân dọc (axial ribs) và các vân ngang (spiral cords), thỉnh thoảng nhẵn. Miệng khá nhỏ và thường hơi tròn, với 1 kênh siphon ngắn và uốn ngược. Miệng ngoài (outer lip) hơi dày, nhẵn hoặc có răng hình răng cưa bên trong, đôi lúc có 1 đường rãnh nông hoặc khía phía sau. Miệng trong (inner lip) nhẵn hoặc lằn gợn yếu nhưng không có các gờ, khu vực miệng trong bị chai sạn và được mở rộng vào 1 bộ phận nhẵn hình khiêm.
Vỏ nắp bằng sừng và nhỏ hơn miệng với một nhân nằm gần tận cùng của nắp và thường có răng cưa dọc theo rìa mép của vỏ nắp. Đầu có các xúc tu nhỏ và dài chứa mắt lồi lên. Chân lớn với các điểm bên ở phía trước và thường có 1 cặp xúc tu ở phía sau. Siphon bằng thịt và rất dài [21], [22].
Dải răng kitin có từ 60 – 90 hàng răng. Các răng ở trung tâm có hình tròn đến hình tam giác [23]. Về sinh thái, phần lớn các loài thuộc họ Nassariidae phổ biến ở vùng triều và dưới triều, từ vùng ôn đới đến nhiệt đới, phân bố nền đáy mềm hoặc các bãi đá ở môi trường biển hoặc nước lợ. Phân bố ở độ sâu từ 0 đến 1000 m nhưng phổ biến từ 0 đến 300 m [17].
Các loài ốc thuộc họ Nassariidae là các loài ưa hoạt động ăn thực vật, động vật, và xác bã hữu cơ [24], [25]. Thành phần thức ăn đa dạng gồm các nhóm giun nhiều tơ (Polychaete), Amphipoda, giáp xác (Crustaceans), tảo đáy (diatom), thân mềm chân bụng (Gastropoda), hai mảnh vỏ (Bivalvia), cá, và các mùn bã hữu cơ [26]. Có thể chuyển động nhanh trên bùn hoặc cát. Với siphon dài vì thế chúng có thể tìm thức ăn hoặc đào hố ẩn mình trong nền đáy.
Thường sống thành đàn. Giới tính phân biệt, thụ tinh trong. Trứng được ấp trong lớp vỏ bằng sừng. Ấu trùng sống tự do trong nước như dạng phiêu sinh với thời gian tương đối dài (khoảng 1 – 2 tháng) trước khi sống đáy.
Các loài thuộc họ Nassariidae thương được sử dụng làm 4 thức ăn hoặc mồi bẫy của cộng đồng dân cư ven biển, và vỏ thường được dùng để trang trí [22]. Hệ thống phân loại và đặc điểm ốc Cà na - Tomlinia frausseni. Năm 1882, Bellardi đã đề xuất ra họ phụ Cylleninae dựa trên sự xuất hiện đường nối – khớp nối ở miệng ngoài [27]. Họ phụ Cylleninae hiện tại gồm 4 giống và 71 loài, Cyllene Gray, 1834 (23 loài), Nassaria Link, 1807 (45 loài), Trajana Gardner, 1948 (1 loài) và Tomlinia Peile, 1937 (2 loài) [28].
Dựa trên cấu tạo dải răng bằng kitin của loài Buccinum rapulum được Reeve mô tả vào năm 1846, Peile (1937) đã đề xuất ra giống Tomlinia. Dải răng kitin có cấu tạo rất đặc biệt với các răng nhỏ dạng kim tiêm nằm xen kẽ với các đỉnh răng lớn (cusps) dạng răng lược của dải kitin trung tâm (rhachidian). Dải kitin mặt bên có cấu trúc gồm 2 đỉnh răng lớn (dicuspid). Dải răng kitin có tổng cộng 72 hàng.
Trong một số hàng của dải kitin trung tâm, gần khu vực phía trước, tại vị trí X đỉnh răng lớn được thay thế bởi răng nhỏ dạng kim tiêm (Hình 1. Cấu tạo dải răng kitin của T. rapulum – Nguồn Peile, 1937 Đến thời điểm hiện tại, có 2 loài ốc thuộc chi Tomlina được ghi nhận trên thế giới là loài T. Dựa trên công bố của Nguyen Ngoc Thach (2014) [16] thì ốc Cà na có hệ thống phân loại như sau: 5 Phylum MOLLUSCA Class Gastropoda Cuvier, 1797 Subclass Caenogastropoda Cox, 1960 Order Neogastropoda Wenz, 1938 Supperfamily Buccinoidae Rafinesque, 1815 Family Nassariidae Iredale, 1916 (1835) Subfamily Cylleninae Bellardi, 1882 Genus Tomlinia Peile, 1937 Species Tomlinia frausseni Nguyen, 2014.
Đặc điểm sinh học ốc Cà na Về đặc điểm hình thái ốc Cà na (T. frausseni) có kích thước trung bình, chiều dài thân từ 33 – 38 mm có thể lên tới 41 mm. Hình trứng thon dài với đường xoắn ốc cao và phân biệt rõ ràng, các đường nối giữa các vòng xoắn (suture) hơi lượn sóng. Trôn ốc nhọn (apex).
Vòng xoắn thân (body whorl) phình to, chiếm khoảng 80% chiều dài thân. Chiều rộng bằng khoảng 45% chiều dài vỏ. Hoa văn bao gồm các đường gân dọc (axial ribs) rộng lõm ở giữa và có các dấu vết của các đường xoắn ốc ngang (spiral cords). Các đường gân dọc nhiều ở các vòng xoắn ốc gần trôn ốc, trở lên khó phân biệt và mất dần ở vòng xoắn cuối và nhẵn mịn ở vòng xoắn thân.
Các đường xoắn ngang có thể nhìn thấy được ở dưới các đường nối của vòng xoắn gần trôn ốc và trở lên khó thấy ở các vòng xoắn lớn hơn. Miệng thon dài, mở rộng ra hướng bên và màu nâu đậm ở giữa. Mép rìa ngoài của miệng mỏng, không có răng và có màu trắng đến vàng ở rìa phía trong. Trục giữa hơi trắng với gờ rõ ràng [16].
rapulum phân biệt với T. frausseni là loài này có các vòng xoắn có góc cạnh và hình dáng, phần lưng và kênh siphon thô hơn. Có sự hiện diện của các vân dọc ở các khu vực đường nối dọc theo các vòng xoắn. Phần đầu của siphon rộng, thô, có góc cạnh và có màu xám không có màu xanh sáng như T.
Vỏ sừng phủ phía ngoài hơi vàng nhạt hơn là nâu nhạt và không bóng như T. rapulum gracilis khác với T. frausseni bởi hình 6 dáng có gờ dọc theo các đường xoắn gần trôn ốc. Các đường xoắn này hơi mờ và hoa văn xoắn rõ.
Hình dáng mỏng manh và các vòng xoắn ốc yếu hơn [16], [30], [31]. Các loài thuộc chi Tomlinia chỉ mới ghi nhận phân bố tại khu vực sông ở Việt Nam và Indonesia [17]. Theo Đỗ Văn Tứ và cs. frausseni là loài đặc hữu tại Việt Nam và chỉ mới ghi nhận phân bố tại các vùng biển ven bờ thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
Ốc cà na phân bố tại các khu vực có nền đáy bùn có độ sâu từ 1 – 10 m [16], [32] [33]. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 1. Vị trí địa lý Vùng bờ biển tỉnh Trà Vinh có chiều dài khoảng 65 km được giới hạn bởi 2 cửa sông lớn là Cổ Chiên và Định An.