Luận án nghiên cứu phân loại subtrib Justiciinae thuộc họ Ô Rô ở Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu phân loại phân tông xuân tiết subtrib justiciinae nees thuộc họ ô rô fam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Thực Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

391
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vị trí của họ Ô rô (Acanthaceae Juss.) và phân tông Xuân tiết (Justiciinae) trong bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales) và lớp Mộc lan (Magnoliopsida)

1.2. Tình hình nghiên cứu, các hệ thống phân loại họ Ô rô (Acanthaceae) và phân tông Xuân tiết (Justiciinae)

1.2.1. Trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC BẢNG, DANH MỤC HÌNH VẼ, DANH MỤC BẢN ĐỒ, DANH MỤC ẢNH MÀU, DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CÁC PHÒNG TIÊU BẢN, DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG TRA CỨU TÊN KHOA HỌC

BẢNG TRA CỨU TÊN VIỆT NAM

PHỤ LỤC 1: ẢNH MÀU CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ LOÀI CỦA PHÂN TÔNG XUÂN TIẾT Ở VIỆT NAM

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÁC LOÀI NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI HẠT PHẤN VÀ HÌNH THÁI HẠT

PHỤ LỤC 3: BẢN ĐỒ PHÂN BỐ CÁC LOÀI THUỘC CÁC CHI CỦA PHÂN TÔNG XUÂN TIẾT – HỌ Ô RÔ Ở VIỆT NAM

PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH CÁC LOÀI GIẢI MÃ TRÌNH TỰ GEN VÀ DỮ LIỆU TRÌNH TỰ GEN (ITS)

Tóm tắt

I. Giới thiệu về họ Ô Rô và phân tông Justiciinae

Họ Ô Rô (Acanthaceae) là một trong những họ thực vật phong phú tại Việt Nam, với khoảng 42 chi và gần 200 loài. Phân tông Justiciinae, một phần của họ này, chiếm tới trên 35% tổng số loài trong cả họ. Việc nghiên cứu phân loại Justiciinae là cần thiết để đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Hệ thực vật Việt Nam, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật từ Trung Quốc và Malaixia, tạo nên sự đa dạng phong phú. Nghiên cứu về phân loại thực vật không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn trong bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Việt Nam có hệ thực vật đa dạng, nhưng việc phân loại thực vật vẫn còn nhiều thiếu sót. Các nghiên cứu trước đây về họ Ô Rô chủ yếu tập trung vào một số chi nhất định mà chưa có công trình nào phân loại đầy đủ và hệ thống cho toàn bộ họ. Do đó, nghiên cứu phân loại subtrib Justiciinae là cần thiết để bổ sung vào kho tàng kiến thức về thực vật học tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho việc biên soạn bộ sách Thực vật chí Việt Nam, phục vụ cho các ngành liên quan như nông nghiệp, dược học và bảo tồn đa dạng sinh học.

II. Tình hình nghiên cứu và phân loại họ Ô Rô

Từ thế kỷ 18, nhiều nhà thực vật học đã có những đóng góp quan trọng trong việc phân loại họ Ô Rô. Linnaeus là người đầu tiên mô tả và đặt tên cho một số chi và loài thuộc họ này. Sau đó, A. de Jussieu đã hệ thống hóa các chi và đặt tên cho họ Acanthaceae. Hệ thống phân loại của Nees vào năm 1832 đã chia họ này thành các tông và phân tông dựa trên đặc điểm hình thái. Tuy nhiên, nhiều hệ thống phân loại sau này đã chỉ ra rằng việc phân chia này còn nhiều thiếu sót và cần được điều chỉnh. Hệ thống phân loại hiện tại vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, với nhiều quan điểm khác nhau về vị trí và mối quan hệ giữa các chi trong họ Ô Rô.

2.1. Các hệ thống phân loại chính

Có nhiều hệ thống phân loại khác nhau cho họ Ô Rô, từ hệ thống của Nees đến các hệ thống hiện đại hơn. Hệ thống của G. Hooker vào năm 1876 đã tổng hợp nhiều dẫn liệu về đặc điểm hình thái để phân chia họ này thành 5 tông và 11 phân tông. Tuy nhiên, do số lượng chi nghiên cứu còn ít, hệ thống này chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa các taxon. Hệ thống phân loại của Melchior và Vollesen cũng đã có những điều chỉnh, nhưng vẫn cần thêm nghiên cứu để hoàn thiện hơn. Việc phân loại Justiciinae trong bối cảnh này là một thách thức lớn, đòi hỏi sự kết hợp giữa các phương pháp phân loại hình thái và sinh học phân tử.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu phân loại Justiciinae không chỉ có ý nghĩa trong việc bổ sung kiến thức về thực vật học mà còn có giá trị thực tiễn trong nhiều lĩnh vực. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp và dược học. Việc phân loại chính xác các loài trong phân tông này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thực vật. Hơn nữa, nghiên cứu này còn góp phần vào việc xây dựng bộ sách Thực vật chí Việt Nam, một tài liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu và sinh viên trong lĩnh vực thực vật học.

3.1. Ứng dụng trong bảo tồn đa dạng sinh học

Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp xác định các loài có nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn. Việc phân loại chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên trong việc xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. Sự đa dạng của họ Ô Rô tại Việt Nam không chỉ có giá trị về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa văn hóa và kinh tế, do đó việc bảo tồn và phát triển các loài thực vật này là rất cần thiết.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí của họ Ô rô (Acanthaceae Juss.) và phân tông Xuân tiết (Justiciinae) trong bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales) và lớp Mộc lan (Magnoliopsida) Trước khi họ Ô rô được thành lập, Linnaeus (1753) [104] đã đặt tên cho một số chi và loài mà sau này được xếp vào họ Ô rô, trong đó chi Eranthemum, Justicia được xếp vào nhóm 2 nhị với 1 vòi nhụy (Diandria monogynia); chi Acanthus, Barleria, Ruellia, Dianthera xếp vào nhóm 4 nhị với 2 nhị dài và 2 nhị ngắn (Dydinamia). Sau này, ông và một số tác giả khác còn công bố một số chi nữa (Phaulopsis, Lepidagathis,.) nhưng cũng vẫn sắp xếp giống như trên. de Jussieu (1789) [103] là nhà thực vật học đầu tiên hệ thống hoá lại các chi và xếp vào các họ riêng.

Ông đã đặt tên cho nhiều họ thực vật, trong số đó có họ Ô rô là Acanthaceae Juss. với chi chuẩn (typus) là Acanthus được Linnaeus công bố năm 1753. Một số quan điểm về vị trí của họ Ô rô (Acanthaceae) trong bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales) và các phân lớp thuộc lớp Mộc lan (Magnoliopsida) Tác giả, năm công bố Vị trí trong phân lớp Vị trí trong bộ G. Bentham & Hooker (1862) Gamopetalae Personales Engler (1964) do Melchior chỉnh lý bổ sung Sympetalae Tubiflorae J.

Hutchinson (1969) Herbaceae Personales A. Cronquist (1981) Asteridae Scrophulariales Young (1982) Gentiananae Gentianales R. Thorne (1983) Gentianiforae Bignoniales V. Heywood (1993) Dilleniidae Scrophulariales A.

Takhtajan (1973) Asteridae Scrophulariales A. Takhtajan (1987) Lamiidae Scrophulariales A. Takhtajan (1997) Lamiidae Scrophulariales Từ khi thành lập, họ Ô rô (Acanthaceae Juss.) đã được khá nhiều nhà hệ thống học thực vật trong các công trình của mình đề cập đến vị trí sắp xếp như: Bentham & Hooker (1873) [100] xếp họ Ô rô trong bộ Personales thuộc phân lớp có cánh tràng 4 hợp (Gamopetalae); Hutchinson (1969) [54] có cùng quan điểm xếp họ Ô rô trong bộ Personales nhưng lại thuộc phân lớp cây thảo (Herbaceae). Hệ thống của Melchior (1964) [87] xếp họ Ô rô trong bộ Hoa ống (Tubiflorae) thuộc phân lớp tràng hợp (Sympetalae), Young (1982) lại xếp họ Acanthaceae trong bộ Gentianales và R.

Thorne xếp Acanthaceae trong bộ Bignoniales,…Tuy nhiên nhiều tác giả xếp họ Ô rô trong bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales) nhưng thuộc các phân lớp khác nhau: A. Tất cả thống nhất vị trí họ Ô rô nằm trong lớp Mộc lan (Class. Magnoliopsida, Dicotyledones) thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta, Angiospermae). Tình hình nghiên cứu, các hệ thống phân loại họ Ô rô (Acanthaceae) và phân tông Xuân tiết (Justiciinae) 1.

Trên thế giới Từ thế kỷ 18, Linnaeus (1753) [104] người được coi là ông tổ của ngành phân loại thực vật, đã mô tả và đặt tên cho 6 chi và 30 loài mà sau này chúng được xếp vào họ Ô rô (Eranthemum (1 loài), Justicia (11 loài), Acanthus (4 loài), Barleria (5 loài), Ruellia (8 loài), Dianthera (1 loài). Các chi và loài này được tác giả xếp vào phân lớp hai nhị, một vòi nhụy (diandria monogynia) và 4 nhị với 2 dài và 2 ngắn (Dydinamia) cùng với nhiều chi và loài của nhiều họ khác cùng có chung đặc điểm trên như họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Nhài (Oleaceae),… A. de Jussieu (1789) [103] là nhà thực vật học đầu tiên đã hệ thống hoá lại các chi thành các họ riêng biệt và đặt tên cho nhiều họ thực vật, trong đó có họ Acanthaceae. Ông đã sắp xếp 8 chi (Acanthus, Barleria, Ruellia,…) vào họ này và đặt tên là Acanthi.

Brown đã chỉnh lý lại tên gọi Acanthi thành Acanthaceae nhưng vẫn lấy tên tác giả là Jussieu. Sau này các công trình nghiên cứu về họ này đều lấy tên là Acanthaceae Juss. Kể từ đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mặt hệ thống phân loại họ Ô rô với nhiều quan điểm khác nhau. Qua nghiên cứu các hệ thống phân loại họ Ô rô (Acanthaceae), đề tài luận án nhận thấy có các quan điểm phân chia chính sau đây: 5 1.

Quan điểm thứ nhất: Chia họ Acanthaceae thành các tông (tribus), sau đó chia tiếp thành các phân tông (subtribus). Nees (1832) [108] có thể coi là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại họ Acanthaceae. Tác giả dựa vào đặc điểm hạt đính trên giá noãn có móc cong để chia họ Acanthaceae thành 3 tông: Thunbergieae, Nelsonieae và Echmatacanthi. Đặc điểm chính để phân chia thành 3 tông chính là: Tông Thunbergieae và tông Nelsonieae hạt đính trên giá noãn không có móc cong (Retinacula); tông Echmatacanthi với đặc điểm hạt đính trên giá noãn có móc cong; ngoài ra tông Echmatacanthi được chia thành 7 phân tông.

Nees được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống phân loại họ Acanthaceae sau này. Tác giả dựa vào đặc điểm móc trên giá noãn để phân chia ra các nhóm nhỏ là rất hợp lý và các tác giả sau này cũng đều căn cứ vào đặc điểm đó để phân chia họ Acanthaceae. Tuy nhiên do số lượng chi nghiên cứu khi đó còn ít (56 chi), vì vậy hệ thống của Nees còn nhiều thiếu sót. Tên tông Echmatacanthi không đúng về mặt danh pháp và sau này hầu như không được các tác giả thừa nhận.

Trong phân tông Justicieae tác giả chia thành 3 division (nhánh) (Ruellioideae, Gendarusseae và Eranthema), thuật ngữ này là không chính xác, vì tên của bậc phân loại này là ngành. Trong hệ thống này, Justicieae là một phân tông riêng biệt thuộc tông Echmatacanthi. Phân tông được chia thành 3 nhánh (Division), trong đó nhánh 1 (Ruellioideae) bao gồm 5 chi, nhánh 2 (Gendarusseae) bao gồm 8 chi, nhánh 3 (Eranthema) bao gồm 3 chi. Một số chi sau này thuộc phân tông Xuân tiết (Justiciinae) như Dicliptera, Rungia, Peristrophe, Hypoesthes, Rhaphidospora (tên đồng nghĩa chi Justicia) thì lại thuộc phân tông (Dicliptereae) với đặc điểm đài xếp kiểu nanh sấu, hay chi Asystasia lại thuộc phân tông Ruellieae căn cứ vào đặc điểm của ống tràng.

Cách phân chia này tỏ ra chưa hợp lý mà các tác giả về sau không thừa nhận cũng như một số chi sau này là tên đồng nghĩa vì vậy khó để sắp xếp các chi thuộc phân tông Xuân tiết ở Việt Nam. Nees trong công trình với A. de Candolle [107] dựa vào đặc điểm: hạt đính trên giá noãn có móc cong, mấu cong trên hạt, số lượng nhị, số lương bao phấn, hình dạng và vị trí đính của bao phấn,…. để đưa ra hệ thống phân loại họ Acanthaceae gồm 11 tông.

Hệ thống này gần giống hệ thống của tác giả năm 1832; 6 tông Thunbergieae và Nelsonieae được tác giả giữ nguyên, các tông Hygrophileae, Ruellieae, Barlerieae, Andrographideae, Dicliptereae được tác giả nâng lên từ các phân tông (subtribus) tương ứng năm 1832. Tách phân tông Acantheae thành lập 2 tông mới là Acantheae và Aphelandreae. Tác giả cũng thành lập tông mới là Eranthemeae dựa vào division (nhánh) trước đó của năm 1832. Đây là một công trình vĩ đại, được nhiều nhà thực vật sử dụng bởi trong đó mô tả tất cả các loài đã biết về cây hai lá mầm, cây hạt trần cũng như công bố nhiều loài mới cho khoa học.

Tuy nhiên về mặt hệ thống phân loại thì do hệ thống này ra đời rất sớm, khi chưa có các luật danh pháp cụ thể cho việc đặt tên các taxon nên hệ thống của E. Nees (1847) còn nhiều nhầm lẫn, rất phức tạp, khó hiểu cho người sử dụng. Ngoài một số thay đổi trên, tác giả đã đổi tên Justicieae thành Gendarusseae. Như vậy tông Justicieae không tồn tại mà tồn tại dưới tên Gendarusseae.

Hooker (1876) [100] vẫn dựa vào đặc điểm hạt đính trên giá noãn với móc cong như Nees, nhưng đã tổng hợp thêm nhiều dẫn liệu về đặc điểm hình thái như các sắp xếp của cánh tràng, đặc điểm của đài, tràng, nhị, nhụy, quả,. để đưa ra một hệ thống gồm 5 tông, 11 phân tông. Với nhiều chi được công bố mới sau hệ thống của E. Nees (1847), thì hệ thống của G.

Hooker xây dựng trên cơ sở nghiên cứu 120 chi, và đã sắp xếp họ Acanthaceae thành 5 tông như sau: - Tribus I. Thuỳ tràng xếp vặn (contori). Bầu 2 ô, mỗi ô chứa 2 noãn hoặc lép. Hạt hình cầu.

Thuỳ tràng xếp lợp. Bầu 2 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn. Hạt nhỏ, hình cầu. Thuỳ tràng xếp lợp.

Bầu mỗi ô mang 2 đến nhiều noãn (hiếm khi 8 noãn), 1 hàng hoặc nhiều hàng xếp chồng lên nhau. Hạt bị ép dẹt phẳng, rốn hạt gần mép phía gốc, có móc cong. Tràng hình trứng, chỉ có một môi duy nhất trải rộng. Các thuỳ tràng gần bằng nhau hoặc tràng dạng 2 môi với 2 thuỳ dưới, hoặc chi Barleria có sự khác, tràng xếp lợp chứ không vặn.

Hạt bị ép dẹt, có mấu cong và cứng. Một số hệ thống phân chia thành tông (Trib.) và phân tông (Subtrib. Dicliptereae 8 So với hệ thống của E. Nees (1847) thì hệ thống G.

Hooker (1876) có nhiều thay đổi. Tác giả chia tông Ruellieae thành 5 phân tông Hygrophileae, Euruellieae, Petalideae, Trichanthereae và Strobilantheae; tông Hygrophileae chuyển thành phân tông Hygrophileae và xếp vào tông Ruellieae. Tông Acantheae và Aphelandreae được tác giả nhập lại thành tông Acantheae, đổi tên tông Gendarusseae thành Justicieae; tách chi Asystasia và một số chi khác từ tông Ruellieae để thành lập phân tông Asystasieae xếp vào tông Justicieae; thành lập phân tông Eujusticieae trên cơ sở tách một số chi của tông Gendarusseae và Barlerieae; chuyển hai tông Eranthemeae và tông Dicliptereae thành 2 phân tông của Justicieae. Từ đây tông Xuân tiết (Justicieae) được thiết lập bao gồm 5 phân tông.

Các phân tông này có thể là từ các tông của Nees (1847) và đặc biệt là thành lập phân tông Asystasieae bao gồm chi Asystasia mà trước đây tác giả xếp vào tông Ruellieae. Như vậy, hệ thống của G. Hooker được xây dựng trên cơ sở tổng hợp những dẫn liệu về đặc điểm hình thái dễ nhận biết, do đó việc tra cứu và nhận biết các taxon rất dễ dàng. Ngoài việc quan tâm đến sự có mặt của giá noãn, tác giả còn căn cứ vào nhiều đặc điểm khác.

Đáng chú ý là đặc điểm cách sắp xếp của cánh tràng, một đặc điểm khá quan trọng trong việc chia nhóm các taxon họ Acanthaceae. Cũng giống như Nees trước đó, giới hạn 2 tông Thunbergieae và Nelsonieae cho đến nay vẫn được coi là rất hợp lý. Chính vì vậy mà nhiều tác giả theo quan điểm chia thành các phân họ coi đây là 2 phân họ tương ứng là Thunbergioideae và Nelsonioideae. Tuy nhiên do hệ thống được xây dựng trên số lượng chi nghiên cứu chưa nhiều, 120 chi (một số chi sau này là tên đồng nghĩa), so với số lượng chi của họ Acanthaceae hiện nay đã lên tới 220 nên kết quả thu được chưa phản ánh được đầy đủ mối quan hệ giữa các taxon.

Bên cạnh đó, việc sử dụng thuật ngữ phân tông không đúng luật danh pháp quốc tế hiện hành, một số phân tông Euruellieae và Eujusticieae đến nay không được các tác giả khác thừa nhận. Mặc dù có những thiếu sót nêu trên, song hệ thống của G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án nghiên cứu phân loại subtrib Justiciinae thuộc họ Ô Rô ở Việt Nam" là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực thực vật học, tập trung vào việc phân loại và xác định các loài thuộc subtrib Justiciinae tại Việt Nam. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của họ Ô Rô mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về các phương pháp phân loại thực vật hiện đại. Những thông tin này có thể hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những ai quan tâm đến bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thực vật.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các bài viết sau: Nghiên cứu quy trình nhân nhanh in vitro cây ráy mũi tên lá dài Alocasia longiloba, nơi nghiên cứu về công nghệ sinh học trong nhân giống thực vật, và Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, cung cấp cái nhìn về sự đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt. Cả hai bài viết này đều liên quan đến nghiên cứu sinh học và bảo tồn, giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn phong phú hơn về lĩnh vực này.