Điều tra, đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

Luận văn nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Sơn Động, Bắc Giang. Cung cấp danh lục các loài, hiện trạng và giải pháp bảo tồn bền vững.

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học

2022

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tài Nguyên Cây Thuốc Sơn Động Bắc Giang

Huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang sở hữu một kho tàng quý giá về tài nguyên cây thuốc với đa dạng sinh học vô cùng phong phú. Theo luận văn thạc sĩ khoa học của Đặng Minh Tú từ Đại học Quốc gia Hà Nội (2022), huyện này nằm trong vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật có giá trị y học. Tài nguyên cây thuốc tại Sơn Động không chỉ đáp ứng nhu cầu y học cổ truyền mà còn có tiềm năng phát triển kinh tế cao. Các loài thực vật này được sử dụng trong y học cổ truyềndược liệu với hiệu quả đã được kiểm chứng qua nhiều thế kỷ. Việc điều tra, đánh giá tính đa dạng của nguồn tài nguyên này là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược bảo tồn bền vững.

1.1. Vị Trí Địa Lý và Điều Kiện Tự Nhiên

Huyện Sơn Động nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng có thế hướng địa lý thuận lợi. Địa hình đa dạng với sự kết hợp giữa vùng đồng bằng và những khu vực đốc sườn tạo nên môi trường sinh thái đa dạng. Khí hậu ôn đới gió mùa với mưa dồi dào quanh năm cung cấp điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của cây thuốc. Đất đai màu mỡ và độ ẩm thích hợp góp phần tạo nên sự đa dạng thực vật vô cùng phong phú.

1.2. Ý Nghĩa Kinh Tế Xã Hội

Tài nguyên cây thuốc tại Sơn Động có giá trị kinh tế cao, góp phần phát triển dược liệu địa phương. Khai thác bền vững cây thuốc mang lại thu nhập cho nông dân đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học. Nhiều loài thực vật dược liệu có nhu cầu thị trường lớn, tạo cơ hội phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương.

II. Thành Phần Loài và Đa Dạng Cây Thuốc Sơn Động

Nghiên cứu của Đặng Minh Tú xác định được danh lục chi tiết về thành phần loài cây thuốc tại huyện Sơn Động. Kết quả điều tra thực địa cho thấy đa dạng về bậc phân loại rất cao, bao gồm nhiều họ thực vật khác nhau. Cây thuốc tại đây thể hiện đa dạng về dạng sống từ cỏ, bụi đến cây gỗ và cây leo. Đa dạng về dạng thân cũng được ghi nhận rõ rệt với những loài có thân thảo và loài gỗ. Các loài thực vật dược liệu có công dụng đa dạng, được sử dụng để chữa trị nhiều bệnh khác nhau. Bộ phận dùng làm thuốc cũng rất đa dạng từ lá, rễ, thân, hoa đến quả, tạo nên tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú.

2.1. Phân Loại Theo Dạng Sống

Cây thuốc tại Sơn Động được phân loại thành nhiều dạng sống khác nhau. Các loài cây thuốc thảo chiếm tỷ lệ lớn, dễ trồng và thu hoạch. Cây bụi dược liệu có giá trị sử dụng cao trong y học cổ truyền. Cây gỗ y học mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Cây leo dược liệu có ứng dụng trong chữa bệnh đặc biệt.

2.2. Phân Loại Theo Công Dụng Y Học

Tài nguyên cây thuốc Sơn Động được chia thành nhiều nhóm công dụng khác nhau. Có cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa, hô hấp, xương khớp và bệnh ngoài da. Các loài thực vật dược liệu này được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyềndược liệu hiện đại.

III. Hiện Trạng Bảo Tồn và Những Loài Có Nguy Cơ Tuyệt Chủng

Kết quả điều tra cho thấy một số loài cây thuốc tại huyện Sơn Động đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức và mất môi trường sinh thái tự nhiên. Các loài thực vật dược liệu quý hiếm cần được bảo tồn ưu tiên thông qua các chương trình bảo vệ. Áp lực từ khai thác bất hợp lý, phá rừng và ô nhiễm môi trường đe dọa đa dạng sinh học của vùng. Những cây thuốc có giá trị cao trên thị trường thường bị khai thác vô tội vạ. Tài nguyên cây thuốc quý hiếm cần được ghi danh trong các danh sách bảo vệ loài. Cần xây dựng các khu bảo tồn cây thuốc để giữ gìn đa dạng thực vật cho thế hệ tương lai.

3.1. Những Loài Cây Thuốc Quý Hiếm Cần Bảo Tồn

Nghiên cứu xác định các loài cây thuốc quý hiếm như sâm, linh chi, thủy tùng có giá trị bảo tồn cao. Những thực vật dược liệu này tăng trưởng chậm và sinh sản kém. Việc bảo tồn các loài này đòi hỏi điều kiện đặc biệt và quản lý chặt chẽ.

3.2. Nguyên Nhân Mất Đi Tài Nguyên

Tài nguyên cây thuốc suy giảm do nhiều nguyên nhân. Khai thác bất hợp lý từ quân thể tự nhiên làm giảm đa dạng sinh học. Phá rừng để phát triển nông nghiệp ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của cây thuốc hoang dã.

IV. Chiến Lược Bảo Tồn Và Khai Thác Bền Vững Cây Thuốc Sơn Động

Để đạt được mục tiêu bảo tồn đi đôi với khai thác bền vững, cần áp dụng các giải pháp toàn diện. Phát triển trồng cây thuốc trong điều kiện kiểm soát là biện pháp hữu hiệu để giảm áp lực lên quần thể tự nhiên. Thực hành GACP (Good Agricultural and Collection Practices) trong thu hái dược liệu đảm bảo tính bền vững. Lập khu bảo tồn chuyên biệt cho các loài cây thuốc quý hiếm là cần thiết. Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của tài nguyên cây thuốcđa dạng sinh học giúp tạo sự hỗ trợ xã hội. Kết hợp tri thức y học cổ truyền với khoa học hiện đại để phát triển sản phẩm dược liệu chất lượng cao. Xây dựng cơ sở dữ liệu cây thuốc để hỗ trợ quản lý và nghiên cứu.

4.1. Phát Triển Trồng Trọt Cây Thuốc Bền Vững

Trồng cây thuốc tại Sơn Động cần tuân theo GACP và thực hành nông nghiệp bền vững. Lựa chọn những loài cây thuốc có nhu cầu cao nhưng dễ trồng. Xây dựng các vùng chuyên canh dược liệu để cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định. Hỗ trợ nông dân trong kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thuốc chất lượng cao.

4.2. Lập Khu Bảo Tồn và Quản Lý Bền Vững

Thành lập các khu bảo tồn cây thuốc tập trung vào những loài có giá trị bảo tồn cao. Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác trong khu bảo tồn để bảo vệ đa dạng sinh học. Phối hợp với cơ quan BTTN và cộng đồng địa phương trong bảo tồn thực vật dược liệu quý hiếm.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới Cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật có giá trị, liên quan trực tiếp đến bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc đã được ghi nhận từ cách đây hàng nghìn năm [42]. Theo ước tính của WWF, có khoảng từ 35.000 loài (trong tổng số 250.000 loài cây) được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới [45].

Trong đó, riêng Trung Quốc đã công bố tới hơn 10.000 loài [42, 46, 59]; Ấn Độ có khoảng 6.000 loài [40, 41, 43, 58]; Vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài [58]; ngoài ra ở các nước châu Phi, như Zaire, Botsoana, Kenia…cũng có hàng trăm loài cây thuốc được sử dụng rộng rãi. Theo báo cáo của WHO, có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển (chiếm khoảng 3,5 - 4 tỷ người trên thế giới) có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền. Trong đó, phần lớn các thuốc được sử dụng có nguồn gốc từ cây cỏ [46]. Thống kê gần đây cho thấy, tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước Châu Phi,.

Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho Y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD (Báo cáo Hội thảo dược liệu – Đà Lạt do Bộ Y tế chủ trì năm 2011). Tuy vậy, việc khai thác quá mức và thiếu qui hoạch các nguồn tài nguyên thiên nhiên của con người đã dẫn đến sự báo động về hiện tượng thu hẹp đáng kể ĐDSH. Theo tư liệu của IUCN, trong số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này đã thống kê, có tới 30.000 loài được xếp vào diện bị đe dọa, trong đó có nhiều loài làm thuốc [44, 45]. Tại Trung Quốc, một số loài trước kia có khả năng khai thác như Dioscorea, Fritillarria cirrhosa, Iphigenia indica, Nervilia fordii.nay lại đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng; hay ngay đối với loài Cẩu tích, trước năm 1997 ở Trung Quốc đã khai thác và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Mỹ, Canada đến khoảng hàng trăm tấn nhưng nay cũng đã giảm chỉ khai thác được khoảng vài tấn/năm.

Ở Bangladesh, một số cây thuốc 3 quí như Tylophora indica, Zannia indica…trước kia dễ tìm nay trở nên hiếm. Hoặc như với loài Rauvolfia serpentina, vốn mọc tự nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Thái Lan.có thể khai thác mỗi năm được khoảng 1000 tấn nguyên liệu để xuất sang thị trường Âu - Mỹ, làm thuốc điều trị huyết áp, hiện nay cũng đã cạn kiệt do khai thác liên tục trong nhiều năm [15, 20]. Một số loài như Hoàng liên (Coptis chinensis và C. teeta) đã từng khai thác trong tự nhiên ở Trung Quốc và Ấn Độ, nay đã trở nên rất hiếm và phải đưa vào trồng [20].

Điều này chứng tỏ việc khai thác hợp lý để sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, do nhu cầu thị trường, một số loài cây dược liệu đã được triển khai trồng để chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Điển hình là đối với một số loài Sâm mọc tự nhiên, do giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao nên đã thúc đẩy nhu cầu khai thác sử dụng ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu này, người ta đã chủ động trồng các loài Sâm.

Trong đó, Nhân sâm (Panax ginseng) được trồng nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Triều Tiên; Tam thất (P. notoginseng) được trồng nhiều ở Trung Quốc, nhất là các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông, tới hàng ngàn hecta. Hay là đối với loài Sa nhân tím vốn được khai thác tự nhiên, nhưng với giá trị sử dụng và kinh tế của loài này nhiều nước đã triển khai trồng và cho kết quả tốt như Trung Quốc, Lào…[37, 42]. Như vậy, có thể nói rằng tùy thuộc vào nguồn tài nguyên cây thuốc và nhu cầu của mỗi quốc gia mà mỗi một nước hay một địa phương sẽ khai thác và trồng những loài cây dược liệu có tiềm năng khác nhau để tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 1. Điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc trên cả nước Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Theo thống kê sơ bộ, ở Việt Nam hiện đã biết 10.256 chi, 305 họ thực vật (Phân Kế Lộc, Lê Trọng Cúc, 1997), 4 khoảng 800 loài Rêu, 200 loài Nấm, 200 loài Tảo, trong đó có nhiều loài làm thuốc [1, 2, 20]. Việt Nam có một hệ thực vật rất đa dạng, phong phú cho một quốc gia tương đối nhỏ.

Sự không đồng nhất trong môi trường Việt Nam về chế độ khí hậu, đất đai, cảnh quan và địa hình làm nền tảng cho sự đa dạng cao này. Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới,trong đó có nhiều loài cây thuốc. Từ năm 2010 đến nay, nhiều đơn vị và địa phương trên cả nước đã triển khai điều tra và tái điều tra đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở 35 tỉnh thuộc 7 vùng trên cả nước [11, 13, 28, 29, 30, 32, 50]: + Vùng Tây Bắc: Lai Châu (450 loài), Điện Biên (562 loài), Sơn La (535 loài). + Vùng Đông Bắc: Bắc Kạn (415 loài), Lào Cai (549 loài), Yên Bái (510 loài), Tuyên Quang (682 loài), VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc (375 loài), Hà Giang (1.

+ Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hoá (714 loài), Nghệ An (962 loài), VQG Vũ Quang - Hà Tĩnh (429 loài), VQG Bạch Mã - Thừa Thiên Huế (548 loài). + Vùng Nam Trung Bộ: Quảng Nam (832 loài), Quảng Ngãi (625 loài), Đà Nẵng (1.117 loài), Ninh Thuận (1. + Vùng Tây Nguyên: Đắk Lắk (725 loài), Gia Lai (841 loài), Kon Tum (841 loài), Lâm Đồng (1247 loài), Đắk Nông (910 loài). + Vùng Đông Nam Bộ: Đồng Nai (1.086 loài), Bình Dương (691 loài), Bà Rịa – Vũng Tàu (479 loài), Bù Gia Mập - Bình Phước (266 loài), Lò Gò – Xa Mát – Tây Ninh (433 loài), Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ - TP.

Hồ Chí Minh (162 loài). + Vùng Tây Nam Bộ: An Giang (1.083 loài), Cà Mau (229 loài), Kiên Giang (1. Hiện nay, công tác đánh giá nguồn tài nguyên đang được tiếp tục thực hiện ở nhiều địa phương trên cả nước: Bắc Giang, Vĩnh Phúc,. 5 Trong quá trình điều tra về thành phần loài cây dược liệu, còn chú trọng điều tra về phân bố và trữ lượng của các cây dược liệu bản địa, cây có giá trị kinh tế và tiềm năng phát triển, như các loài thuộc chi: Qua lâu (Trichosanthes), Kim ngân (Lonicera), Bảy lá một hoa (Paris), Nhân sâm (Panax), Hoàng liên ô rô (Mahonia), Đảng sâm (Codonopsis), Thiên niên kiện (Homalomena), Sa nhân (Amomum), nhóm cây thuốc có tiềm năng phục vụ ngành Hoá Dược,.

để khai thác phát triển. Đồng thời xây dựng qui trình khai thác bền vững của các loài có trữ lượng lớn trong tự nhiên như: Rau đắng biển, Sa nhân, Thiên niên kiện, Sa nhân, Chè dây… Tập trung triển khai đánh giá hiện trạng các loài cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng nhằm có được những dẫn liệu cơ bản góp phần phục vụ công tác xây dựng Sách Đỏ Việt Nam và bảo tồn nguồn gen cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng. Dựa vào kết quả điều tra từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã xuất bản Danh lục cây thuốc Việt Nam (2016), trong đó đã ghi nhận 5117 loài và dưới loài thực vật được sử dụng làm thuốc, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn…Với khoảng 5000 loài cây thuốc và vốn tri thức bản địa sẽ là một kho tàng vô giá để triển khai các nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm từ dược liệu phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội. [31] Hàng năm từ nguồn cây thuốc này có thể khai thác từ 10.000 tấn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Tuy nhiên, với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đã dẫn tới tình trạng khai thác cây thuốc liên tục trong nhiều năm cùng nhiều nguyên nhân tác động đã làm cho nguồn tài nguyên này bị giảm sút nghiêm trọng. Nhiều loài cây thuốc quí như Ba kích (Morinda officinalis), Bình vôi (Stephania spp.trước kia khai thác được nhiều nay không còn khả năng khai thác lớn [20]. Nhiều loài cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đã và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Đặc biệt, loài Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) được đánh giá là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên [19].

Tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc tỉnh Bắc Giang Bắc Giang là một tỉnh thuộc trung du miền núi Bắc Bộ, nằm liền kề các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và Lạng Sơn và gần cửa khẩu phía Bắc và Đông bắc với hệ thống đường quốc lộ, đường sắt và đường thủy khá thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền. Do cấu trúc địa hình và khí hậu đa dạng, nên đã tạo ra sự đa dạng về tài nguyên sinh vật. Với hơn 129,164 ha đất rừng tự nhiên và rừng trồng, hệ thực vật rừng khá phong phú, thành phần thực vật chủ yếu nằm trong kiểu phụ miền thực vật Nam Trung Hoa-Bắc Việt Nam với thảm thực vật rừng thường xanh nhiệt đới và á nhiệt đới, có 452 loài cây dược liệu quý thuộc 53 chi của 28 họ cây cỏ, dây leo [67]. Trong các năm từ 1967-1973, đoàn điều tra của Viện Dược liệu đã tiến hành điều tra 325 xã trên tổng số 327 xã thuộc16 huyện của tỉnh Hà Bắc, nay tách thành hai tỉnh là Bắc Ninh (gồm 6 huyện/thị) và Bắc Giang (10 huyện/thị).

Kết quả thu thập được 506 loài cây thuốc, trong đó có nhiều cây có giá trị như Sa nhân, Thiên niên kiện, Mộc hoa trắng, Bách hợp, Mã tiền, Ba kích…[27]. Năm 2013, đoàn công tác của Viện Dược liệu đã điều tra tại Thành phố Bắc Giang và 3 huyện (Lục Nam, Việt Yên, Yên Dũng) với 139 hộ buôn bán và cơ sở đông dược của tỉnh cho thấy nguồn dược liệu được khai thác trong tự nhiên và vùng trồng một số cây dược liệu cũng như nhu cầu sử dụng dược liệu rất lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ