MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hạn hán là một phần tự nhiên của khí hậu, hạn hán hình thành do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự thiếu hụt lượng mưa, lượng bốc hơi lớn và việc khai thác quá mức nguồn tải nguyên nước. Hạn hán xuất hiện trên khắp thé giới có thé xảy ra ở tat cả các vùng khí hậu, với các đặc tính của hạn là biến đổi đáng ké từ vùng này sang vùng khác. Hạn hán là một sự sai khác theo thời gian, rất khác với sự khô hạn, bởi khô hạn bị giới hạn trong những vùng có lượng mưa thấp, nhiệt độ cao và là một đặc trưng lâu dài của khí hậu.
Vì vậy, hiện tượng hạn hán xảy ra trong từng năm với các đặc tính thời tiết và các tác động của nó là không giống nhau. Những năm gần đây cùng với sự phát triển của đất nước, nền kinh tế thuộc các tinh trên lưu vực sông Cả có những thay đổi tích cực, cơ cấu kinh tế đang chuyền dịch dần theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Hàng loạt các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị mới ra đời, nhu cầu nước cho các ngành do đó cũng tăng lên đáng kẻ. Trong khi đó, quy luật diễn biến thời tiết khí hậu ngày càng phức tạp về thời gian xuất hiện lũ và hạn như: Về lũ, diễn biến mực nước trên các sông ngày càng có những tổ hợp bat lợi cho công tác phòng lũ.
Ví dụ như những trận lũ xảy ra vào các năm 1978, 1988, 2002, 2007 va mới nhất là trận lũ sảy ra vào năm 2010 gây tén thất nặng nề cho nền kinh tế, xã hội trên lưu vực; Về hạn, mức độ hạn ngày càng gia tăng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất điển hình như năm 2005, 2007 đặc biệt là năm 2010. Theo thống kê chưa đầy đủ Tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh thuộc lưu vực sông Cả hạn hán cũng xảy ra trên diện rộng, Năm 2010 Nghệ An diện tích hạn khoảng 17.000ha, Hà Tĩnh có khoảng 12.000ha bị hạn trong đó hạn nặng chiếm tới 30% diện tích hạn và hàng trăm hệ thông hô xuông gân mực nước chêt. Một sô nơi mực nước xuông mức thâp nhât trong chuỗi số liệu quan trắc như: trên sông Cả tại Nam Đản, sông La tại Linh 'Cảm,. gây nên tình trạng mặn xâm nhập sâu trên các lưu vực sông, không lầy được nước vào trong đồng.
'Chính vì vậy cần nghiên cứu, phân tích đánh giá tình hình thiếu hụt nguồn nước trên lưu vực sông Cả để xác định các khu vực, các thời gian xảy ra hạn hạn, thường xuyên xảy ra thiểu nước so với nhiều năm, qua đó dé xuất được các giải pháp thích ứng. Mục tiêu nghiên cứu của để tài ~ Đánh giá tình trang hạn hán, thiếu nước ở lưu vue sông Cả dựa trên chỉ số chuẩn hóa lượng mưa (Standardized Precipitation Index, SPD); - Kết hợp công cụ viễn thám, GIS xây dựng bản đồ phân bố thiếu hụt ngu nước dựa trên nguồn số liệu mưa vệ tỉnh; ~ Đề suất giải pháp ứng phó vớ tỉnh trang hạn hán, thiểu hụt nước lưu vực sông Cả. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. ĐẮT tượng nghiên cứu Che đặc điểm khí tượng như lượng mưa, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ bề mặt đất trung bình, độ che phú đất.
và mức độ hạn hán, khả năng ứng phó của địa phương. Pham vi nghiên cứu. ~ Vùng nghiên cứu lưu vue sông Cả thuộc Việt Nam gồm toàn bộ tỉnh Nghệ An, 8 huyện Hà Tinh, một phần huyện Như Xuân thuộc Thanh Hóa. ~ Giới hạn vùng nghiên cứu: + Lamu vực sông Cả nằm trên hai quốc gia: Cộng hoà dân chủ Nhân Dân Lào và Cộng hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam.
Ở Việt Nams trên địa phận của 3 tinh Thanh Hoá, Nghệ An, Ha Tĩnh. + Tỉnh Thanh Hoá nằm trong lưu vực sông Cả: Có khoảng 1/2 diện tích huyện "Như Xuân trên sông Chang (sông nhánh). + Tỉnh Nghệ An nằm trong lưu vực sông Cả gồm có: Huyện Qué Phong, Quy Châu, Quy Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ (nhánh sông Hiểu); Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Son, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Dan, Hưng Nguyên (dng chính sông Cả). Do tinh chat sử dụng nước của các hệ thông thuy lợi hiện nay về mùa kiệt sông Cả ở Nghệ An có liên quan mật thiết với các huyện vùng hưởng lợi là: Huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu (thuộc hệ thống thuỷ nông Diễn Yên Quỳnh - hệ thống Bắc Nghệ An), thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Nghỉ Lộc, Hưng Nguyên (trong hệ thống Nam Hưng Nghỉ - hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An).
+ Tỉnh Hà Tĩnh lưu vực sông Cả nằm ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Nghỉ Xuân và vùng hưởng lợi Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh trong hệ thống sông Nghèn. + Với tổng diện tích tự nhiên là 19.627 km? bao gồm cả vùng hưởng lợi 4, Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu. Cách tiếp cận - Tiếp cân theo mục tiêu: Các vùng sản xuất nông nghiệp, vùng quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp. chưa có nghiên cứu hay cảnh báo về nguy cơ hạn hán.
- Tiép cận két quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước vé vẫn đề han hán. ~ Tiếp cận theo mô hình: Sử dụng các mô hình Khí hậu toàn cầu, công cụ xử lý ảnh vệ tinh Erdas, phin mém GIS phân tích không gian ArcGIS. Phương pháp nghiên cứ - Phương pháp kế thừa; ~ Phương pháp thu thập, théng kê, phân tích số liệu; ~ Phương pháp xử lýsố liệu mưa tử vệ tinh (CHIRPS); ~ Phương pháp ứng dụng phần mềm tính toán chỉ số chỉ số chuẩn hoá lượng mưa ‘SPI từ mưa vệ tinh; ~ Phương pháp ứng dung GIS, công cụ nội suy GIS. để xây dựng bản đồ phân bổ thiếu hụt nguồn nước.
CHUONG 1: TONG QUAN UNG DUNG CÔNG NGHỆ KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU HAN HAN VA VUNG NGHIÊN COU 1. Tổng quan ứng dụng công nghệ không gian trong nghiên cứu hạn hán 1. Tổng quan trên thế giới. * Hạn hắn, thiểu hụt nguồn nước và chỉsố đẳnh giá Trong những thập ky gần đây hạn hén xây ra nhiều nơi trên thé giới, gây nhiều thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống con người và môi trưởng sinh thái.
Hàng năm có khoảng 21 triệu ha dat biến thành dat không có nang suất kinh tế do hạn hán. Trong gần 1/4 thé kỷ vừa qua, số dân gặp rủi ro vì han hán trên những vùng dat khô cần đã tăng hơn 80%. Hơn 1/3 dat dai thé giới đã bị khô cin mà trên đó có 17,7% dân số thế giới sinh sống. Đồng hành với han hắn, hoang mạc hoá, sa mạc hoá trên thể giới cũng ngày càng lan rộng từ vùng đất khô hạn, bán khô han đến cá một số vùng bán ẩm tớt.
Diện tích hoang mạc hoá đã lên đến 39,4 triệu km’, chiếm 26,3% dat tự nhiên thé giới và trên 100 quốc gia chịu ảnh hưởng. Nguy cơ đói và khát do hạn hán uy hiếp 250 triệu con người trên trái đất. kèm theo đó cò ảnh hưởng tới môi trường khí hậu chung toàn cầu (WMO [1)) Hạn thường gây ảnh hưởng trên diện rộng. Tuy ít khi là nguyên nhân trực tiếp gây tốn thất về nhân mạng nhưng thiệt hại do hạn gây ra rất lớn.
Theo số liệu của Trung tâm giảm nhẹ hạn hán quốc gia Mỹ, hàng năm hạn hán gây thiệt hại cho nén kinh tế Mỹ khoảng 6-8 ty USD (so với 2,41 ty USD do lũ và 1,2-4,8 tỷ USD do bão). Đợt hạn hán lịch sử ở Mỹ. xảy ra vào năm 1988 - 1989 gây thiệt hại 39-40 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với thiệt hại kỷ lục của lũ (15-27,6 tỷ USD, 1993) và bão (25-33,1 ty USD, 1992). Hạn cũng gây những tổn thất lớn v kinh tế và môi sinh ở nhiều quốc gia khác như An độ, Pakistan, Australia.
Han hán đưới tác động của El Nino vào năm 1997-1998 đã gây cháy rừng trên điện rộng ở Indonesia, không chi làm thiệt hai rất lớn về kinh tế của nước này mà còn là một thảm họa môi sinh cho nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam Á. Theo tính 3 toán của Liên Hiệp Qu lến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở cl Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu A và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được. Khoảng 135 triệu người có nguy cơ phải rời bỏ nhà cửa đi kiếm sống ở nơi khác [2]. Vì vậy trên thé giới đã có rất nhiều tác gi nghiên cứu vé hạn hán, Nhưng đo tính phức tap của hiện tượng này, đến nay vẫn chưa có một phương pháp chung cho các nghiên cứu về han hán.
Trong việc xác định, nhận dạng. giám sát và cảnh báo hạn hán, các tác giả thường sử dụng công cụ chính là các chỉ số hạn hán. Việc theo doi sự biến động của giá trị các chỉ số hạn hán sẽ giúp ta xác định được sự khởi đầu, thời gian kéo dài cũng như cường độ hạn. Chỉ số hạn hán là hàm của các biến đơn như lượng mưa, nhiệt độ, bốc thoát hơi, dòng chảy.
hoa là tổng hợp của các biển. Mỗi chỉ số đều có ưu điểm nhược điểm khác nhau, và mỗi nước đều sử dụng các chỉ số phù hợp với điều kiện của nước mình. định hạn hán bằng các chỉ số hạn không chỉ áp dụng với bộ số liệu quan trắc mà còn áp dụng với bộ số liệu là sản phẩm của mô hình khí hậu khu vực và mô hình khí hậu toàn cầu. Trong quá trình nghiên cứu hạn, việc xác định các đặc trưng của han là hết site cần thiết, như xác định: sự khởi đầu và kết thúc hạn, thời gian kéo dài hạn, phạm vi mở rộng của hạn, mức độ hạn, tin suất và mối liên hệ giữa những biến đôi của hạn với khí hậu [3] Các phân tích về hạn hán trên quy mô toàn cầu của Aiguo Dai, và cộng sự [4].
theo khu vực và địa phương của Benjamin Lloyd-Hughes & Mark A. Hayes, và công sự [6] đã thông qua các chỉ số hạn dựa trên số liệu mưa, nhiệt độ và độ âm quan trắc trong quá khứ cho thấy số đợt hạn, thời gian kéo dai hạn, cũng như tin suất và mức độ của nó ở một số nơi đã tăng lên đáng kể.