Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ do nước biển dâng

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu diễn biến hình thái vùng ven biển nam trung bộ trong điều kiện nước biển dâng do biến, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

191
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Cách tiếp cận

1.4.2. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.5.1. Ý nghĩa khoa học

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.6. Những đóng góp mới của luận án

1.7. Cấu trúc luận án

2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về vùng nghiên cứu

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Thực trạng xói lở-bồi tụ dải ven biển Nam Trung Bộ

2.1.3. Nguyên nhân chính gây xói lở-bồi tụ vùng ven biển Nam Trung Bộ

2.2. Nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của nước biển dâng đến diễn biến hình thái vùng ven biển

2.2.1. Mô hình xác định hình thái dài hạn

2.2.2. Mô hình xác định hình thái ngắn hạn

2.3. Nghiên cứu liên quan thực hiện ở Việt Nam và Nam Trung Bộ

2.4. Hướng tiếp cận của luận án

3. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN HÌNH THÁI VÙNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ

3.1. Cơ sở lý thuyết về diễn biến hình thái vùng ven biển

3.1.1. Khái niệm chung về mô hình vận chuyển bùn cát

3.1.2. Mô hình mặt cắt bờ biển cân bằng

3.1.3. Mô hình vận chuyển bùn cát dọc bờ

3.2. Cơ sở lý thuyết về năng lượng sóng

3.2.1. Sự hình thành và lan truyền của sóng biển

3.2.2. Năng lượng sóng đơn sắc

3.2.3. Phổ năng lượng sóng

3.2.4. Công thức tính thông lượng năng lượng sóng

3.2.5. Đường cơ sở và trình tự tính toán trong luận án

3.3. Cơ sở khoa học các mô hình tính toán

3.3.1. Phân cấp các mô hình trong luận án

3.3.2. Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE21/3 Couple Model FM

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ DIỄN BIẾN HÌNH THÁI VÙNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ

4.1. Xây dựng bản đồ phân vùng năng lượng sóng dải ven biển Nam Trung Bộ

4.2. Mô hình tính sóng toàn vùng biển Đông

4.3. Mô hình nghiên cứu chính vùng ven biển Nam Trung Bộ

4.4. Kết quả tính toán dòng năng lượng sóng dải ven biển Nam Trung Bộ

4.5. Mối liên hệ giữa dòng năng lượng sóng Pt dọc bờ và Pn hướng bờ với hiện tượng xói lở-bồi tụ ở khu vực Nam Trung Bộ

4.5.1. Đoạn bờ khu vực cửa Đại – Hội An (Quảng Nam)

4.5.2. Đoạn bờ khu vực Bãi Xép-cửa Đà Rằng- Đà Nông (Phú Yên)

4.5.3. Đoạn bờ từ mũi La Gàn-mũi Yến (Bình Thuận)

4.5.4. Đoạn bờ từ mũi Né-mũi Kê Gà (Bình Thuận)

4.5.5. Nhận xét chung

4.6. Nghiên cứu điển hình khu vực ven biển LaGi

4.6.1. Hiện trạng khu vực nghiên cứu

4.6.2. Sơ đồ và điều kiện biên tính toán

4.6.3. Diễn biến hình thái khu vực ven biển LaGi

4.7. Tác động biến đổi khí hậu - nước biển dâng đến diễn biến hình thái dải ven biển Nam Trung Bộ

4.7.1. Kịch bản biến đổi khí hậu - nước biển dâng cho Việt Nam

4.7.2. Kịch bản nước biển dâng sử dụng tính toán cho khu vực Nam Trung Bộ

4.7.3. Kết quả tính toán đặc trưng sóng và diễn biến hình thái khu vực ven biển Nam Trung Bộ dưới tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu

4.8. Định hướng giải pháp nhằm cải tạo, ổn định hình thái các khu vực ven biển Nam Trung Bộ trong điều kiện nước biển dâng do biến đổi khí hậu

4.8.1. Giải pháp công trình

4.8.2. Giải pháp phi công trình

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậunước biển dâng. Vùng ven biển này không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế mà còn là nơi sinh sống của hàng triệu người. Tình trạng sạt lởbồi tụ diễn ra ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động kinh tế của người dân. Việc nghiên cứu diễn biến hình thái bờ biển giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Vùng ven biển Nam Trung Bộ có đường bờ biển dài hơn 1.100 km, là khu vực phát triển kinh tế xã hội quan trọng. Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậunước biển dâng, tình trạng xói lở diễn ra nghiêm trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố từ biển và con người đến hình thái bờ biển, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững.

II. Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết về diễn biến hình thái vùng ven biển bao gồm các mô hình vận chuyển bùn cát và năng lượng sóng. Các mô hình này giúp phân tích sự tương tác giữa nước biển dânghình thái địa lý. Việc áp dụng các mô hình này cho phép dự đoán xu hướng biến đổi hình thái bờ biển trong tương lai, từ đó có thể đưa ra các chính sách quản lý hiệu quả. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, sự thay đổi của hệ sinh thái ven biển có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội.

2.1. Mô hình vận chuyển bùn cát

Mô hình vận chuyển bùn cát là công cụ quan trọng trong việc phân tích sự biến đổi hình thái bờ biển. Mô hình này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi sinh tháiđịa chất ven biển. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự mất cân bằng trong nguồn bùn cát do hoạt động của con người có thể làm gia tăng tình trạng xói lởbồi tụ. Việc áp dụng mô hình này trong nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các xu hướng biến đổi trong tương lai.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nước biển dâng đã có tác động rõ rệt đến hình thái bờ biển Nam Trung Bộ. Các mô hình tính toán cho thấy, trong điều kiện biến đổi khí hậu, mức độ xói lở có thể gia tăng, đặc biệt ở các khu vực cửa sông. Việc xây dựng bản đồ phân vùng năng lượng sóng giúp xác định các khu vực dễ bị tổn thương và cần được bảo vệ. Các giải pháp đề xuất bao gồm việc xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển và áp dụng các biện pháp phi công trình như trồng rừng ngập mặn.

3.1. Đánh giá tác động của nước biển dâng

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nước biển dâng không chỉ ảnh hưởng đến hình thái bờ biển mà còn tác động đến kinh tếmôi trường. Các khu vực ven biển đang phải đối mặt với tình trạng sạt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Việc đánh giá tác động này là cần thiết để có những biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả.

IV. Giải pháp và khuyến nghị

Để ứng phó với tình trạng biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp công trình như xây dựng kè biển, đê ngầm cần được triển khai. Bên cạnh đó, các giải pháp phi công trình như trồng rừng ngập mặn cũng cần được chú trọng. Việc quản lý tài nguyên bờ biển một cách bền vững sẽ góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội khu vực.

4.1. Giải pháp công trình

Các giải pháp công trình như xây dựng kè biển và đê ngầm là cần thiết để bảo vệ bờ biển khỏi tác động của nước biển dâng. Những công trình này không chỉ giúp ổn định hình thái bờ mà còn bảo vệ các khu vực dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng. Việc thiết kế và thi công các công trình này cần dựa trên các nghiên cứu khoa học và thực tiễn để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tổng quan về vùng nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Hình 1.1: Vị trí vùng duyên hải Nam Trung Bộ trên bản đồ Việt Nam1 Duyên hải Nam Trung Bộ (Hình 1.1) có vị trí địa lý như sau: Phía Bắc là đèo Hải Vân, điểm cuối của dãy Trường Sơn Bắc, giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế (vùng Bắc Trung Bộ); phía Tây là dãy Trường Sơn Nam với hệ thống cao nguyên đất đỏ bazan, giáp với Lào và các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng (vùng Tây Nguyên), phía Đông là biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phía Nam giáp với các tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu (vùng Đông Nam Bộ).com/ luan an -8- Đây là một vùng lãnh thổ hẹp kéo dài theo hướng Bắc-Nam bao gồm các tỉnh từ Đà Nẵng ở phía Bắc cho đến tỉnh Bình Thuận ở phía Nam, đều là các tỉnh có phần đất tiếp giáp với biển.Với đặc điểm tự nhiên này, các tỉnh Nam Trung Bộ có lợi thế trong việc phát triển kinh tế-xã hội nhất là kinh tế biển nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, trong đó vấn đề xói lở bờ biển và bồi tụ các cửa sông đã và đang trở thành vấn đề đặc biệt quan tâm của các cấp chính quyền và nhân dân địa phương. Thực trạng xói lở-bồi tụ dải ven biển Nam Trung Bộ Xói lở biển là một hiện tượng phổ biến ở ven bờ cả ba miền của nước ta, với 397 đoạn có tổng chiều dài trên 920 km, trong đó khu vực miền Trung xói lở xảy ra ở 233 đoạn có tổng chiều dài lên đến 492 km, chiếm 21,1% chiều dài đường bờ biển [28].

Xét riêng dải ven biển Nam Trung Bộ có tổng chiều dài đường bờ biển là 1.119 km (chiếm 34,3% của cả nước), theo thống kê đến thời điểm tháng 7/2018, trên khu vực có 61 điểm sạt lở với tổng chiều dài sạt lở 80,7km chiếm 7,21% chiều dài đường bờ biển (Bảng 1.1: Tổng hợp hiện trạng sạt lở bờ biển khu vực Nam Trung Bộ [18] Chiều dài bờ Số điểm sạt Chiều dài Tỷ lệ (%) TT Tỉnh/thành biển (Km) lở (điểm) sạt lở km) 1 Đà Nẵng 30 12 8,47 28,23 2 Quảng Nam 125 2 9,2 7,36 3 Quảng Ngãi 144 21 35,13 24,39 4 Bình Định 134 11 7,81 5,83 5 Phú Yên 189 7 8,5 4,50 6 Khánh Hòa 200 3 2,5 1,25 7 Ninh Thuận 105 1 2,5 2,38 8 Bình Thuân 192 4 6,61 3,44 Tổng cộng 1.119 61 80,72 7,21 Xói lở diễn ra trên các kiểu cấu tạo bờ là sỏi cát, bùn sét, bùn, cát…song xu thế xói bờ có vật chất thành tạo chủ yếu là cát (chiếm trên 94%) hiện đang tăng lên đáng kể và diễn ra trên hầu hết bờ biển, tại địa bàn của tất cả các tỉnh. Điển hình về xói lở bờ biển xảy ra tại các khu vực: phía Bắc cửa Đại-Hội An, Tam Hải, Xuân Hòa, Xuân luan an -9- Hải, Núi Thành (Quảng Nam); Đức Phổ, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi); Sông Cầu, An Phú, An Hòa, Xóm Rớ (Phú Yên); Liên Hương, Phan Thiết, LaGi (Bình Thuận)… Quá trình xói lở bờ diễn ra với tốc độ khác nhau (Bảng 1. Đối với bờ biển Nam Trung Bộ có tốc độ xói phổ biến dưới 5m/năm, và có xu thế gia tăng. Nhiều nơi, xói lở có tốc độ đến 40÷60 m/năm (những năm 1999÷2000), thậm chí 150÷250 m/năm.

Tính trung bình xói lở bờ biển làm mất đi khoảng 389,9 ha/năm [32]. Chiều dài các đoạn xói lở có thể chỉ một vài trăm mét, cho đến hàng chục kilomet. Có những khu vực, xói lở xảy ra theo những thời khoảng xen kẽ với bồi tụ. Khu vực có địa hình khúc khuỷu, răng cưa nhiều vũng vịnh và bán đảo, đá gốc, các vùng cửa sông, hiện tượng xói lở xảy ra với quy mô nhỏ, cường độ yếu đến trung bình.

Khu vực bị xói lở mạnh thường xảy ra ở kiểu bờ biển lồi, thẳng hướng sóng và có vật chất tạo bờ chủ yếu là cát [31].2: Thống kê tỷ lệ chiều dài bờ biển theo phân cấp tốc độ xói lở [32] Chiều dài xói lở bờ biển theo tốc độ xói lở (%) Khu vực bị Yếu Trung bình Mạnh Rất mạnh xói lở < 5m/năm (5÷15 m/năm) (15÷30 m/năm) (> 30 m/năm) Toàn quốc 21,4% 19,5% 28,3% 30,7% Miền Trung 52,2% 24,3% 10,0% 13,5% Song song với quá trình xói lở bờ biển, hiện tượng bồi lấp các cửa sông, tuyến luồng, bến cảng,…ở Nam Trung Bộ cũng có xu hướng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Một số cửa sông đã và đang xảy ra tình trạng bồi tụ và dịch chuyển luồng lạch phức tạp có thể kể đến là cửa Đại sông Vũ Gia-Thu Bồn, cửa Lở sông Trường Giang ở Quảng Nam, cửa sông Vệ, cửa sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, cửa sông Bàn Thạch và cửa đầm Ô Loan ở Phú Yên…Trong thời gian 1985÷1995 cửa Đại (Hội An) dịch về phía Nam 50m/năm; cửa Lở (sông Trường Giang) dịch về phía Đông Nam trên 50m/năm; cửa Vệ, cửa Đà Rằng, cửa Đà Nông dịch đáng kể về phía Bắc [18]. Như vậy, vùng duyên hải Nam Trung Bộ đang tồn tại hai vấn đề đối lập nhau. Trong khi dải ven biển bị xói lở mạnh thì hầu hết các cửa sông, đầm phá, bến cảng ở đây lại đang bị bồi lấp làm giảm khả năng thoát lũ, gây ngập lụt cục bộ và cản trở đến các hoạt động giao thông thủy trong khu vực.

Nguyên nhân chính gây xói lở-bồi tụ vùng ven biển Nam Trung Bộ Có nhiều nguyên nhân gây xói lở bờ biển và bồi lấp cửa sông ở miền Trung Việt Nam nói chung và vùng duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng.2 trình bày về các yếu tố tác động chính gây xói lở-bồi tụ bờ biển và cửa sông trong khu vực, được đúc kết thông qua những công trình nghiên cứu gần đây như của Nguyễn Văn Cư và nnk (2003) [2], [3], Nguyễn Kim Đan (2017) [4], Đặng Đình Đoan (2014) [5], Nguyễn Thanh Hùng và nnk (2018) [13], Phạm Thu Hương (2012) [15], Võ Công Hoang, Hitoshi Tanaka và nnk (2016) [16], Nguyễn Bá Quỳ (1994) [22], Lê Đình Thành (2009) [26], Phạm Huy Tiến (2005) [31], Nguyễn Đức Vượng và nnk (2015) [39].2: Các yếu tố gây xói lở-bồi tụ bờ biển và cửa sông Theo Hình 1.2, nguyên nhân gây ra hiện tượng xói lở-bồi tụ gồm tương tác của 3 nhóm yếu tố sau: yếu tố nội sinh (cấu trúc địa chất địa mạo và chuyển động tân kiến tạo, hệ sinh thái ven biển, bùn cát), yếu tố ngoại sinh (điều kiện sóng, gió, bão, dòng chảy, BĐKH, …) và yếu tố nhân sinh (con người). Các nhóm yếu tố này có liên quan mật thiết, tương tác qua lại lẫn nhau trong một thể thống nhất, tuân theo quy luật của tự nhiên và chịu sự chi phối sâu sắc bởi hoạt động của con người. Khi có một hay luan an -11- một số yếu tố thay đổi thì các yếu tố còn lại cũng sẽ thay đổi theo nhằm thiết lập trật tự cân bằng mới. Vì bờ biển chỉ có tính chất cân bằng động, tồn tại ở ba trạng thái là ổn định, bồi tụ hoặc xói lở phụ thuộc vào sự cân bằng giữa nguồn trầm tích đưa đến và mang đi, dưới tác động của các yếu tố ngoại sinh thường xuyên biến đổi, trên nền tác động chậm chạp, lâu dài của yếu tố nội sinh [57].

Nguyên nhân do yếu tố nội sinh Các yếu tố nội sinh bao gồm đặc điểm địa hình, cấu trúc địa chất địa mạo và các hệ thống đứt gãy trong vùng, đặc biệt là các hệ thống đứt gãy hiện đại. Do tác động của hoạt động tân kiến tạo và chuyển động hiện đại gây nên chuyển động nâng, hạ, tách dãn, trượt của lớp hoặc các mảng đất đá dẫn tới xói lở hoặc bồi tụ ở khu bờ. Địa hình Về mặt địa hình, dãy núi Trường Sơn ở phía Tây chạy dọc theo đường bờ biển có hàng loạt các đỉnh cao trên 1.500m, đổ trực tiếp xuống biển Đông qua khoảng cách nhỏ hẹp vì vậy độ dốc địa hình trong vùng Nam Trung Bộ rất lớn. Cấu trúc của dãy Trường Sơn là các núi sắp xếp song song chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam cùng với hướng của đường bờ biển chuyển từ Tây Bắc-Đông Nam chếch sang hướng Bắc- Nam nên thường xuất hiện những nhánh núi chạy sát tới đường bờ biển khiến địa hình khu vực này thường bị chia cắt thành những ô nhỏ.

Kiểu đường bờ ở Nam Trung Bộ có hai dạng chính sau [31]: Đường bờ vùng núi ven biển: Dạng này phân bố chủ yếu từ Đà Nẵng đến mũi Cà Ná (Ninh Thuận). Đặc điểm chính là đường bờ phát triển trên nền đá gốc cứng chắc xen kẽ các đoạn phát triển trên các thành tạo bở rời Đệ tứ. Đường bờ khu vực từ Đà Nẵng đến mũi Cà Ná rất khúc khuỷu, có nhiều mũi, vịnh và bán đảo. Đây là khu vực biển sâu (đường đẳng sâu 20m nằm gần sát bờ, có nơi chỉ cách vài chục mét), đáy biển có độ dốc lớn.

Từ Đà Nẵng đến Quy Nhơn (Bình Định) có các mũi đâm ra biển như mũi Đà Nẵng, mũi An Hòa, mũi Ba Làng An (hay Batangan). Nhiều vịnh nước sâu như vịnh Đà Nẵng, vịnh Dung Quất, vịnh Nước ngọt và vịnh Quy Nhơn thuận tiện xây dựng các cảng biển. Từ Quy Nhơn đến mũi Dinh (Ninh Thuận) dãy Trường Sơn Đông đã tiến ra sát biển, bờ biển phát triển thành nhiều luan an -12- mũi, vịnh xen nhau. Một số vịnh có diện tích lớn như vịnh Xuân Đài, Vân Phong, Cam Ranh ăn khá sâu vào đất liền và được che chắn bởi các bán đảo.

Khu vực này còn có nhiều đảo ở ngoài như đảo Hòn Lớn, đảo Hòn Tre. Đường bờ vùng đồng bằng duyên hải có xen các núi sót ven biển: Phân bố chủ yếu từ mũi Cà Ná đến Bà Rịa-Vũng Tàu. Đường bờ phát triển chủ yếu trên các thành tạo bở rời chủ yếu là cát biển xen kẽ các mũi đá gốc nhô ra sát biển (Sừng Trâu, La Gàn, Kê Gà, Kỳ Vân…). Địa chất Về địa chất, đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ nằm trong phạm vi 4 đới kiến tạo, 2 đới A Vương-Sê Công và Nông Sơn thuộc hệ uốn nếp Việt-Lào và 2 đới Kon Tum-Đà Lạt thuộc địa khối Indosinia (Nguyen Xuan Bao và nnk 1995) [17].

Trên các đới này phân bố khá đầy đủ những thành tạo trầm tích và trầm tích - nguồn núi lửa có tuổi từ Arkei đến ngày nay. Trong khu vực có sự hoạt động của các đứt gãy hiện đại hướng á tuyến và á kinh tuyến, các trũng hạ dạng chậu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ do nước biển dâng

Bài viết này trình bày về nghiên cứu biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ do nước biển dâng, một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực khoa học môi trường và quản lý tài nguyên. Luận án tiến sĩ này được thực hiện bởi Phạm Trung, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Công Vấn và TS Trần Thu Tâm tại Viện Khoa Học Thủy Lợi Việt Nam.

Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình biến đổi hình thái vùng ven biển Nam Trung Bộ, bao gồm cả các yếu tố tự nhiên và con người. Luận án cũng đề xuất các giải pháp để quản lý và bảo vệ vùng ven biển này.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Luận văn thạc sĩ về dự báo diễn biến dòng chảy do biến đổi khí hậu tại Ninh Thuận - Bài viết này cũng nghiên cứu về biến đổi khí hậu và tác động của nó đến dòng chảy tại Ninh Thuận.

Luận văn thạc sĩ: Biến động lớp phủ thực vật ngập mặn tại Quy Nhơn và tác động của đô thị hóa - Bài viết này nghiên cứu về biến động lớp phủ thực vật ngập mặn tại Quy Nhơn và tác động của đô thị hóa.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến động vật phiêu sinh tại rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre - Bài viết này nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến động vật phiêu sinh tại rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre.

Tất cả các bài viết này đều có liên quan đến chủ đề biến đổi khí hậu và tác động của nó đến môi trường, và đều có thể cung cấp thêm thông tin và kiến thức cho bạn về chủ đề này.