CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIEU KHU VỰC NGHIÊN COU 1. Téng quan vỀ lĩnh vực nghiên cứu Ld. Một số khái niệm về MĐTT đái với BDKH Hiện nay trên thể giới o6 hơn 25 định nghĩa, khái niệm và phương pháp khác nhau để đánh giá tin thương [3L Tuy nhiên chưa có một định nghĩa thống nhất được thừa nhận "rên toàn thể giới.
Trong đó, một số định nghĩa phổ biển về MĐTT được đưa ra như sau; - Ten thương là khả năng mẫn cảm của ti nguyên (ải nguyên tự nhiên, tải nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biển [4] ~ Tên thương có liên hệ chặt chẽ với mức độ ảnh hưởng của một tai biến nào 46 đối với sinh kế của con người, và điều này chủ yếu được xác định bởi các yêu tổ xã hội, vit chất, kinh lổ, môi Hường và chính tri, làm ting tính nhạy cảm của công đồng trước tác động của tai bid B1 ~ Tổn thương là mức độ thiệt hại cia một thành tổ hoặc một tip hợp các thinh 6 trong khu vực bị ảnh hưởng bởi các mối nguy hiểm [6]. Các thành tổ này có thể gồm một xã hội, một cộng đồng hay một hộ gia đình. Các hộ gia đình và cộng đồng có thể bị phơi 16 dưới nhiều dang tai biển khác nhau bao gồm các sự kiện thi tết bắt thường, thiên tai, dịch bệnh, khang hoàng kính tế, xung đột dan sự, ap lực môi trường. ~ Khả năng tin thương xác định các đặc điểm cin cá nhân hay cộng đồng vé khả năng dur báo, ng phó, chống chịu và phục hồi ừ tắc động của tai biển [7.
Ri ro ai biển là một hm của ta biển và khả năng tổn thương, điều đó có nghĩ là khả năng tổn thương chỉ mức độ dia phương, cộng đồng, hộ gia đình hay cả nhân cổ thể bị ảnh hưởng khỉ tai biến xây ra = MĐTT đề cặp xu hướng các nhân tổ của môi trường bị tác động từ bên ngoài đối lập với nó là khả năng phục hồi và ứng phó lại trước các yếu tổ tác động của chính các nhân tổ đó [8]. “Tôn thương liên quan đến tim năng và nguy cơ trong tương lai có thể xây ra một khủng hoảng làm thiệt hại sức khỏe, sự sông, tài sản hay nguồn lực mà con người cẳn sử dụng phục vụ cho sự sống của minh [9] ~ Khái niệm về tên thương do BĐKH được Uy ban biên giới quốc gia về BĐKH (IPCC) hoàn chính qua từng thời kỳ, Theo khái niệm mới nhất của IPCC năm 2017, tổn thương do BĐKH là "mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tn thương hoặc không thé ứng phó với các tác động bắt lợi do BĐKH (bao gồm các hình thái thời tiết cue đoan và BĐKH)”. IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương là một ham số của 3 yếu tổ: (E) của hệ thống trước các ác động bắt lợi của BĐKH; (S) của hệ thống trước những thay đổi của khí hậu; năng lực thích ứng với BĐKH. Như vậy, mỗi quan hệ của chỉ số tinh tổn thương với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mỗi quan hệ toắn học [10], và sẽ được trình bảy cụ thể tại mục 2.
“Các định nghĩa này thực chất đều mang các đặc điểm chung nhất của MĐTT là đính giá hai nhân tố về sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tượng bị tổn thương và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính nó.12, Lịch sử nghiên cứu về mức độ tan thương do BĐKH 11. Tình hình nghiên cửu trên thề giới Lịch sử nghiên cứu về tổn thương được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặc biệt được. «quan tim nhiễu từ những năm 90 của thé kỷ XX, thể hiện tong cúc công trình của Watts, MJ. 91996); Cục Quản lý đại đương và khí quyển quốc gia Mỹ - NOAA (1999); Sander Evan der Leeuw và Chr, Aschan-Leygonie (2000); Adger, W.
(2001); Poul Mathieu (2001); Holger Hoff (2001) [1] Vio cuối thé kỷ XX, một số m6 hình về tổn thương và phương pháp đánh giá tổn thương dựa trên các thông số được lượng hóa có hệ thống đã được định hình trên thể giới như phương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter. Trong đó, mô hình đính giá tổn thương của NOAA với sự đảnh giá về mức độ nguy hiểm do các tai biển, mặt độ đối tượng bị tổn thương. Cơ sở dit liệu phục vụ đánh giá MĐTT rất phong phú và chỉ tiết mạng lưới liền kết giữa các cơ quan thuộc nhiều lĩnh vực (khoa họ tư nhiễn, khoa học xã hội, .); mô hình đánh giá tổ thương xã hội của Cutter xây dựng với các tiêu chí đánh § giá mang tính xã hội cao như tuổi, mật độ dân số, trình độ học vẫn. Các yếu tổ này thể iện sự thích nghỉ và ảnh hưởng của tai biến đối với xã hội.
Các mỗ bình trên tuy được xây dựng với mục tiêu, cách tiếp cận về MĐTT khác nhau nhưng đều cho kết quả cuối càng là thành lập bản đổ MĐTT và các thành phần trong các nghiên cứu rên, một số khía cạnh được đề cập nhiễu là tổn thương do kính ế, do chiến tranh khủng bổ, do các ti biển thiên nhiên (BĐKH, ai biến mỗi turing.) tn thương do các yếu tổ công nghệ gây ra mm Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA (1999) đã xây dựng qui tỉnh đánh giá khả năng bị tổn thương (gồm các bước: nhận định các tai biển, phân tích ti biến, cơ sở hạ ng, ti nguy kinh t xã hội và phân tích cơ hội giảm thiểu thiệt hại) và những ứng dụng của iệc đánh giá này (qui hoạch sử dụng đất, bảo vệ tải nguyễn và tăng khả năng giảm thiểu, túi hít tin và sữa chữa Ini các công tinh bị hư hỏng, đưa ra các chính sách đầu tư và phí tiển cần được mu tiền. Bên cạnh đó, m6 hình đánh giá khả năng bị tổn thương cửa Cuter (1996) được xây đựng áp dụng cho đảnh giá MDTT của hệ thống ti nguyễn, môi trường. Trong đó, khả năng bị tổn thương của hệ thống tài nguyên, môi trường có thé thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tổ ri biển gây tôn thương, sự thay đổi năng lục của cộng đồng đối phó với tai ến. Mức độ thiệt hại do tai biết không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biển (cường độ, qui mô, tin su.
mà côn phụ thuộc vio đặc tính và khả năng bị tổn thương của đối tượng chịu tác động của tú biển, Mô hình này có ý "nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biển và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến. Đến năm 2000, Cutter đã nghiên cứu và đảnh giá khả năng bị tổn thương xã hội do tai biến, Trong đó, các yếu tổ ảnh hướng tới khả năng bị tổn thương xã hội gồm: cơ sở hạ 1g, đường thoát hiểm, khả năng ứng phó với tai bi thấp, tin ngường và phong tục ập quán thiếu thông in, tí thức, tiểu quyỄn tiếp cận tài nguyên. “Trong các nghiên cứu của SOPAC (2004), bộ chi số (gồm 50 chỉ s6) về tổn thương môi trường (EVI - Environmental Vulnerability Index) đã được xây dựng tập trung vào các hia cạnh: khí hậu thay đổi, đa dang sinh học, nước, nông nghiệp và thủy sản, sức khỏe cộng đồng, các tai biển (động đất, sóng thần.) và hiện tượng thiên nhiên (bão, lốc, ey xừng. Đối với từng yếu tổ gây tổn thương cho môi trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tn thương.
Đây là công trình nghiên cứu cô ý nghĩa lớn cho sắc nước dang phát tiễn, ding thời là dữ iệu quan trọng phục vụ phát tiễn kín tế bên vững tại đây, Bên cạnh đó, nghiên cứu của USG: (Mỹ) đã đánh giá khả năng tổn thương cho cả đối ven biển do ding cao mực nước biển, trong đó đã xây dụng được chỉ số tổn thương của đới bờ (CVI - Coastal Vulnerability Index) và dựa trên đó đã thiết lập được. bản đỗ tổn thương cho từng khu vực. Tiếp theo đó có rit nhiỄu công tình nghiên cửu các khín cạnh liên quan tối khả ning bị tổn thương như khả năng phục hồi, khả năng thích ứng (Adaptation) và tính nhạy cảm. Trong đó, khả năng phục hồi là khả ning của một hệ ng cho phíp nó hấp thụ và tận dụng hay thậm chí thu lợi từ những bién đổi và thay đổi tác động đến hệ thông và do dé làm cho hệ hổng tn tai mà không lim thay đổi về chất tong ấu trúc hệ thống (Hooling, 1973); là khả năng của thực thé (con người, loại tài nguyên, HST, dải ven bin.) để chẳng hại, phân ứng và phục ai lại từ những tác động của tự nhiên (SOPAC, 2004): i khả năng thich nghỉ với các hoàn cảnh đang thay đổi và do vậy đảm bảo tính an toàn của các phương thức sóng (Luttrell, 2001).
Hầu hết các nghiên cấu về tổn thương có xu hướng tập trưng vào từng tác nhân riêng lệ như dng cao mực nước biển (USGS, 2005), lũ yt (Harvey, 208). x6i lở bờ biển Boru xà nnk, 2005). Trong những năm gin đây, nghiên cứu MBTT do biển đỗi khí hậu được đặc biệt quan tâm, điển hình là các công tình nghiên cứu của IPCC (2001, 2007. Tuy hiên, hướng nghiên cứu về tổn thương theo tgp cận tổng hợp các ác nhân và đối tượng tổn thương côn it được thực hiện (Cutter, 1996, NOAA.
1999, 2001; SOPAC, 2004) Cùng với phương pháp viễn thám và GIS đã được các nha nghiên cứu MĐTT áp dụng dé xây dug hệ thông cơ sử dữ liệu về cá chỉ iêu đánh giá MĐTT, chỉ iều đảnh giá mức độ nguy hiểm do tai biển, chỉ tiêu đánh giá mật độ đối tượng bị tổn thương, chỉ tiêu đánh giá khả năng ứng phó. Hiện nay, hướng nghiên cứu về dự báo mức độ tốn thương ngày cing thu hút nhiễu sự «quan tâm của các nhà khoa học. Kết quả phân vùng dự báo mức độ ổn thương ti nguyên, ôi trường là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách có được một bức trình tổng thể về ảnh hướng của các hoạt động tự nhiên, nhân sinh và các qui hoạch phíttiển kính tế, xã hội hội đốn tii nguyễn, mỗi trường rong tương li từ đó đưa ra các giải pháp thích ứng và qui hoạch sử đụng bén vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ mỗi trường (Steinitz và nnk, 2003).