MỞ ĐẦU 1. Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài Lƣu vực sông Nhuệ - Đáy với diện tích khoảng 7.665 km2, dân số gần 12 triệu ngƣời, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), quốc phòng - an ninh các tỉnh/thành phố Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình [1]. Sông Nhuệ - Đáy là thủy vực duy nhất tiếp nhận toàn bộ lƣợng nƣớc thải từ các khu vực nội, ngoại thành của thành phố Hà Nội. Trên lƣu vực sông Nhuệ - Đáy có gần 2.
Tính trung bình m i ngày-đêm, tổng lƣợng nƣớc thải đổ vào lƣu vực sông khoảng hơn 600.000 m3, trong đó phần lớn chƣa đƣợc xử lý, đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nƣớc lƣu vực sông này. Đứng trƣớc tình hình đó, ngày 31/8/2009, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1404/QĐ-TTg thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trƣờng lƣu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Ủy ban đã chỉ đạo các tỉnh/thành phố trên lƣu vực triển khai Đề án Tổng thể bảo vệ môi trƣờng lƣu vực sông Nhuệ - sông Đáy đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt ngày 29/4/2008 tại Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg. Sau gần 09 năm hoạt động với 02 chƣơng trình mục tiêu quốc gia và một số chƣơng trình, đề án, dự án, nhiệm vụ trọng điểm nhƣng hiện chất lƣợng nƣớc sông Nhuệ - Đáy mới chỉ có xu hƣớng giảm gia tăng ô nhiễm nhờ các biện pháp quản lý mềm nhƣ thể chế, thanh tra, kiểm tra; chất lƣợng nƣớc chƣa đƣợc cải thiện nhiều vì thiếu các công trình thu gom và xử lý nƣớc thải, công nghệ xử lý nƣớc thải.
Cùng với sự phát triển dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sông Nhuệ - Đáy rất khó đƣợc cải thiện nếu không triển khai đồng bộ việc quản lý và kiểm soát nguồn thải, quản lý và chia sẻ thông tin về các nguồn thải chính trên lƣu vực, quy hoạch quản lý chất thải, quy hoạch hệ thống thoát nƣớc và xử lý nƣớc thải các khu dân cƣ, khu công nghiệp trên lƣu vực, phối hợp giải quyết các vấn đề môi trƣờng liên vùng, liên tỉnh. Việc đánh giá chất lƣợng nƣớc của sông Nhuệ - Đáy trong bối cảnh BĐKH và phát triển KTXH sẽ cung cấp những cơ sở khoa học cho các hoạt động quản lý, kiểm soát và qui hoạch nguồn nƣớc thải vào thủy vực sông. Đã có một số đề tài nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm trên lƣu vực, áp dụng các mô hình mô phỏng để phân tích đánh giá hiện trạng, dự báo chất lƣợng nƣớc, xác định 1 Luan van khả năng chịu tải của các thủy vực nhƣ Tổng cục Môi trƣờng, Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng nƣớc từng đoạn sông và trên một lƣu vực sông nói chung, lƣu vực sông Nhuệ - Đáy nói riêng vẫn là một vấn đề nóng, gây nhiều sự chú ý của nhân dân, các nhà khoa học và quản lý.
Xuất phát từ các căn cứ và những cơ sở nêu trên luận văn Nghiên cứu mô phỏng thủy lực và đánh giá diễn biễn chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy trong bối cảnh biến đổi khí hậu” sẽ áp dụng các phƣơng pháp mô hình toán hiện đại nhằm đánh giá đƣợc hiện trạng và diễn biến chất lƣợng nƣớc của lƣu vực sông Nhuệ - Đáy trong bối cảnh biến đổi khí hậu từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu, khống chế mức độ gia tăng ô nhiễm phục vụ khai thác hợp lý, bảo vệ có hiệu quả nguồn nƣớc, bảo vệ môi trƣờng và cảnh quan thiên nhiên lƣu vực sông Nhuệ - Đáy. Mục tiêu của đề tài Ứng dụng các mô hình MIKE NAM, MIKE 11 HD và MIKE 11 Ecolab mô phỏng và đánh giá diễn biến chất lƣợng nƣớc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy trong bối cảnh biến đổi khí hậu từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm phục vụ khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên nƣớc mặt lƣu vực sông Nhuệ - Đáy. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Mô hình MIKE, dòng chảy và chất lƣợng nƣớc sông Nhuệ - Đáy 3.2 Phạm vi nghiên cứu: Vùng thƣợng lƣu sông Nhuệ - Đáy bao gồm các trạm Ba Thá, Hƣng Thi, Phủ Lý, Ninh Bình và Nhƣ Tân. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích: Thực hiện trên cơ sở thu thập các nguồn tài liệu nhƣ khí tƣợng thủy văn, chất lƣợng nƣớc, địa hình… Các dữ liệu này sẽ đƣợc xử lý phân tích, kiểm tra và tổng hợp một cách chọn lọc đƣợc sử dụng cho yêu cầu về hiệu chỉnh, kiểm định các mô hình thủy văn, thủy lực và chất lƣợng nƣớc.
- Phương pháp kế thừa các nghiên cứu đã có: Đề tài kế thừa những thành quả đạt đƣợc của các nghiên cứu khác trong và ngoài nƣớc về đánh giá chất lƣợng nƣớc. Đặc biệt là các đề tài liên quan đến chất lƣợng nƣớc tại lƣu vực sông Nhuệ - Đáy để tham khảo cho đề tài nghiên cứu này. 2 Luan van - Phương pháp mô hình toán: Ứng dụng mô hình toán hiên đại vào mô phỏng các quá trình thủy văn, thủy lực trên lƣu vực sông gồm các mô hình MIKE NAM, MIKE 11 HD và MIKE 11 Ecolab để mô phỏng và đánh giá diễn biến chất lƣợng nƣớc theo kịch bản BĐKH. 3 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LƢU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY VÀ PHƢƠNG PHÁP MÔ HÌNH TOÁN 1.1 Điều kiện tự nhiên lƣu vực Lƣu vực sông Nhuệ - Đáy là một tiểu lƣu vực của sông Hồng chiếm phần lớn diện tích phía Tây - Nam của đồng bằng và trung du sông Hồng.
Vị trí địa lí của lƣu vực biến đổi từ: 200 đến 21020’ Vĩ độ Bắc và 1050 đến 106030’ Kinh độ Đông.1: Bản đồ mạng lƣới lƣu vực sông Nhuệ - Đáy [3] Phía Bắc và Đông Bắc đƣợc bao bởi sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà tới cửa Ba Lạt với chiều dài khoảng 242km. Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà có chiều dài 33km. Phía Tây và Tây Nam là đƣờng phân lƣu giữa sông Hồng và sông Mã bởi các dãy núi Ba Vì, Cúc Phƣơng - Tam Điệp, kết thúc tại mũi Mai An Tiêm (Nơi sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn dài khoảng 10km rồi đổ ra biển tại cửa Càn.Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95km từ cửa Ba Lạt tới cửa Càn. Diện tích tự nhiên của từng tỉnh, thành phố trong lƣu vực sông Nhuệ - Đáy nhƣ sau: - Hòa Bình với diện tích 1.631 km2, chiếm 20% diện tích tự nhiên lƣu vực; - Hà Nội với diện tích 2.450 km2, chiếm 31% diện tích tự nhiên lƣu vực; - Hà Nam với diện tích 852 km2, chiếm 11% diện tích tự nhiên lƣu vực; 4 Luan van - Ninh Bình với diện tích 1.384 km2, chiếm 17% diện tích tự nhiên lƣu vực; - Nam Định với diện tích 1.641 km2, chiếm 21% diện tích tự nhiên lƣu vực[3].1 Đặc điểm địa hình Lƣu vực sông Nhuệ - Đáy có địa hình đa dạng, với các vùng núi, đồi và 2/3 diện tích là đồng bằng nên có những thuận lợi để phát triển kinh tế.
Xét cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể chia địa hình lƣu vực sông Đáy thành ba vùng chính là: Vùng núi; vùng đồng bằng và vùng cửa sông ven biển. Địa hình lƣu vực sông Đáy thấp dần theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam từ Bất Bạt Trung Hà đến giáp sông Ninh Cơ và biển. Chiều rộng trung bình của lƣu vực sông Đáy khoảng 60 km. Phía hữu ngạn sông Đáy chủ yếu là miền núi, có nhiều dãy núi đá vôi xen kẽ đồi núi đất (các khu đá vôi có nhiều hang động và hiện tƣợng Karst mạnh), phần đồng bằng chiếm rất ít và bị chia cắt khá phức tạp.
Phía tả ngạn sông Đáy là đồng bằng phì nhiêu, thấp dần về phía biển, đất cao thấp không đều nên đã hình thành những vùng trũng. Các vùng đất thấp dọc các sông có cao trình khoảng + 10,0 m ở phía Bắc và thấp dần về phía Nam khoảng từ +0,5 m đến +1,0 m. Theo điều kiện địa hình cụ thể dọc sông, có thể chia sông Đáy thành các đoạn nhƣ sau: Đoạn từ Vân Cốc đến Đập Đáy dài khoảng 12 km có dạng hình phễu, thực tế đây là khu chứa lũ Vân Cốc khi phân lũ. Đoạn từ Đập Đáy đến cầu Mai Lĩnh dài 23 km, chiều rộng trung bình giữa hai đê là 3000 m, lòng sông quanh co uốn khúc, trong mùa kiệt không có nguồn sinh thuỷ nên cạn kiệt, mùa lũ nƣớc chủ yếu là nƣớc tiêu chảy tràn trên bãi sông.
Đoạn Mai Lĩnh - Tân Lang dài 75 km, đây là đoạn đi qua nhiều địa phƣơng và điều kiện khác nhau, lòng sông quanh co uốn khúc nên có thể chia thành hai đoạn cụ thể: Đoạn Mai Lĩnh - Ba Thá dài 27 km có khoảng cách giữa 2 đê khoảng 3000 4000 m, nơi hẹp nhất khoảng 700 m; Đoạn Ba Thá - Tân Lang dài 48 km, khoảng cách 2 bờ biến đổi từ 300 1500m (Từ Trinh Tiết trở xuống chủ yếu là lũ chảy trong lòng sông). Tại Tân Lang địa hình lòng sông thu hẹp rất đáng kể do các dãy núi [2]. Đoạn Tân Lang - Gián Khẩu dài 53 km, bờ tả có đê còn bờ hữu là chân núi, từ bờ sông vào chân núi là những cánh đồng nhỏ thuộc huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Hà Nam khi gặp lũ lớn thƣờng bị ngập. Đoạn từ Gián Khẩu đến biển dài khoảng 82 km lòng sông mở rộng dần biến đổi từ 150 600 m, một số ch bãi bờ tả khá rộng làm khoảng cách hai đê lên đến 3000 4000 m, đoạn sông này luôn luôn ảnh hƣởng của thủy triều.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn a.
Đặc điểm khí tƣợng Sông Nhuệ và sông Đáy nằm trong khu vực mang đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khí hậu miền bắc Việt Nam đó là nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa đông khá lạnh và ít mƣa, mùa hè nắng nóng nhiều mƣa tạo nên bởi tác động qua lại của các yếu tố: bức xạ mặt trời, địa hình, các khối không khí luân phiên khống chế. Về chế độ nắng, sông Nhuệ và sông Đáy nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lƣợng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105-120 kcal/cm 2 và có số giờ nắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1600-1750 giờ/năm[4].