Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Mã - Chu là một trong những hệ thống sông liên quốc gia lớn nhất Bắc Trung Bộ với tổng diện tích tự nhiên đạt 28.490 km², trải rộng trên lãnh thổ Việt Nam và Lào. Riêng tại tỉnh Thanh Hóa, lưu vực bao phủ diện tích 823.893 ha, giữ vị trí trung tâm trong phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị hóa. Tổng lượng dòng chảy mặt trung bình nhiều năm của lưu vực đạt khoảng 18 tỷ m³, tuy nhiên nguồn nước phân bố rất bất đối xứng khi lượng nước mùa lũ chiếm tới 75% và mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 25%. Sự chênh lệch lưu lượng giữa tháng lớn nhất và tháng kiệt nhất dao động từ 7 đến 24 lần, tạo áp lực khốc liệt lên an ninh nguồn nước hạ lưu trong các tháng mùa khô.

Tình trạng biến đổi khí hậu kết hợp hiện tượng suy giảm nguồn nước từ thượng nguồn đã khiến hạn hán và xâm nhập mặn tại hạ du sông Mã diễn biến ngày càng phức tạp. Đợt cạn kiệt lịch sử mùa khô năm 2010 ghi nhận mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân xuống mức 2,90 m (thấp hơn 0,88 m so với trung bình nhiều năm), lưu lượng dòng chính sông Mã hạ thấp còn 60 m³/s và sông Lèn chỉ còn 3 m³/s. Điều này tạo điều kiện cho triều mặn từ vịnh Bắc Bộ lấn sâu vào nội địa tới 28 km với ranh mặn 1,0 ‰, làm hơn 23.827 ha đất canh tác lúa đông xuân bị đe dọa và trên 65.000 hộ dân vùng ven biển lâm vào cảnh thiếu nước sinh hoạt trầm trọng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết bài toán thủy động lực học và lan truyền mặn trên hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Lèn, sông Bưởi, sông Lạch Trường và kênh De. Đề tài tập trung lượng hóa nhu cầu dùng nước của 10 phân vùng kinh tế, ứng dụng mô hình số trị để mô phỏng diễn biến xâm nhập mặn theo các kịch bản dòng chảy thiết kế tần suất P = 75%, 90% và 95% kết hợp nhu cầu dùng nước đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học then chốt để xây dựng quy trình điều tiết nguồn nước liên hồ chứa, kiểm soát ngưỡng mặn dưới 1,0 ‰ và đảm bảo cấp nước bền vững cho hơn 1,8 triệu dân cư hạ lưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý thuyết thủy lực dòng hở và động lực học chất lưu một chiều, lấy hệ phương trình vi phân Saint-Venant làm nền tảng mô tả dòng chảy không ổn định trên mạng lưới sông. Phương trình liên tục và phương trình động lượng được kết hợp để xác định chính xác sự biến đổi của mực nước và lưu lượng theo không gian và thời gian. Quá trình vận chuyển và lan truyền độ mặn được mô hình hóa thông qua lý thuyết bình lưu - khuếch tán đối lưu khối lượng (Advection-Dispersion), tính toán theo định luật bảo toàn nồng độ chất tan dưới tác động của dòng chảy tự nhiên và dao động thủy triều.

Khung lý thuyết của đề tài định vị 4 khái niệm chuyên ngành cốt lõi: dòng chảy kiệt thiết kế theo xác suất tần suất (P%), ranh giới xâm nhập mặn tiêu chuẩn (nồng độ mặn 1,0 ‰ làm ngưỡng giới hạn cho phép khai thác nước tưới và sinh hoạt), hệ số khuếch tán mặn dọc dòng dẫn, và phương trình cân bằng nước lưu vực. Mô hình cân bằng nước tổng thể được thiết lập nhằm lượng hóa mối quan hệ cung - cầu nước giữa dòng chảy tự nhiên với tổng nhu cầu khai thác phục vụ nông nghiệp, chăn nuôi, sinh hoạt, công nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường tại 10 phân vùng tưới trọng điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được kế thừa và thu thập đồng bộ từ chuỗi quan trắc khí tượng, thủy văn và chất lượng nước giai đoạn 1960 - 2010. Dữ liệu bao gồm mực nước, lưu lượng và độ mặn thực đo tại các trạm đại biểu như Cẩm Thủy, Hồi Xuân trên sông Mã, Cửa Đạt trên sông Chu, cùng hệ thống trạm kiểm soát mặn hạ lưu như Giàng, Hàm Rồng, Nguyệt Viên, Cụ Thôn và Phà Thắm. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm chuỗi số liệu thủy văn liên tục 40 năm và hai đợt điều tra mặn chi tiết theo từng giờ vào tháng 4 năm 2003 và tháng 3 năm 2010.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên nguyên tắc chọn lọc các chuỗi đo đạc điển hình ứng với các năm kiệt lịch sử có tần suất P = 75%, 90% và 95% nhằm nhận diện trạng thái giới hạn rủi ro cao nhất của hệ thống nguồn nước. Lý do lựa chọn bộ công cụ mô hình toán MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển xuất phát từ ưu thế vượt trội của sơ đồ sai phân hữu hạn ẩn 6 điểm Abbott. Thuật toán này đảm bảo tính ổn định số trị tuyệt đối, hội tụ nhanh và giải quyết chính xác bài toán thủy lực phi tuyến trên mạng sông phân nhánh phức tạp.

Quy trình mô hình hóa được tiến hành nghiêm ngặt qua 3 bước: thiết lập sơ đồ hình học mạng sông với các mặt cắt địa hình thực đo, hiệu chỉnh bộ thông số độ nhám Manning và hệ số phân tán mặn bằng tài liệu thực đo tháng 4 năm 2003, sau đó tiến hành kiểm định độc lập với bộ số liệu tháng 3 năm 2010. Biên trên của mô hình là quá trình lưu lượng tại Cẩm Thủy và Cửa Đạt, biên dưới là dao động mực nước triều tại các cửa sông Cửa Hới, Lạch Trường và Lạch Sung.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán cân bằng nước cho thấy sự mất cân đối cung cầu nguồn nước cục bộ diễn ra gay gắt trong 3 tháng kiệt nhất (tháng 2, tháng 3 và tháng 4). Lưu lượng bình quân tháng 3 tại trạm Cẩm Thủy chỉ đạt 102 m³/s, trong khi dòng chảy 30 ngày liên tục nhỏ nhất chỉ đạt 91,1 m³/s. Khi dòng chảy về ở tần suất P = 95%, lưu lượng kiệt thiết kế giảm mạnh xuống 70,0 m³/s, thấp hơn 44% so với lưu lượng trung bình mùa cạn (125,7 m³/s), khiến khả năng tự đẩy mặn của hệ thống sông suy giảm nghiêm trọng.

Thứ hai, kết quả mô phỏng thủy lực và chất lượng nước phản ánh phạm vi xâm nhập mặn lấn sâu kỷ lục vào mùa khô. Ứng với kịch bản tần suất dòng chảy P = 95%, ranh mặn 1,0 ‰ xâm nhập sâu tới 28 km trên dòng chính sông Mã (độ mặn lớn nhất tại trạm Giàng đạt mức đỉnh 6,1 ‰), vượt sâu 22 km trên sông Lèn (độ mặn tại trạm Cụ Thôn đạt 7,0 ‰), và làm nhiễm mặn toàn bộ 22 km chiều dài sông Lạch Trường cũng như toàn tuyến kênh De.

Thứ ba, sự gia tăng nhu cầu dùng nước đến năm 2020 làm gia tăng áp lực cạn kiệt, khiến thời gian xuất hiện nguồn nước ngọt (độ mặn dưới 1,0 ‰) tại các trạm bơm trọng điểm như Hàm Rồng và Nguyệt Viên bị rút ngắn hơn 60% so với điều kiện tự nhiên. Các công trình lấy nước chỉ có thể vận hành ngắt quãng trong khoảng 2 đến 3 giờ quanh thời điểm chân triều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn gia tăng mạnh mẽ bắt nguồn từ sự suy giảm dòng chảy kiệt thượng nguồn kết hợp biên độ triều cao tại vùng cửa sông. Mực nước kiệt sông Mã tại trạm Lý Nhân vào mùa khô năm 2010 đã hạ xuống 2,90 m, thấp hơn mức trung bình nhiều năm tới 0,88 m, làm triệt tiêu cột nước áp lực đẩy mặn tự nhiên ra biển. So với các lưu vực sông lớn khác ở miền Bắc, vùng hạ lưu sông Mã chịu ảnh hưởng sâu sắc của hiện tượng giao thoa triều lưỡng diện giữa cửa Hới và cửa Lạch Trường, khiến diễn biến độ mặn tại khu vực ngã ba sông có sự lệch pha phức tạp so với đỉnh triều.

Dữ liệu mô phỏng trong nghiên cứu được trực quan hóa qua hệ thống biểu đồ đường quá trình mực nước - độ mặn đồng bộ giữa số liệu tính toán và thực đo tại các trạm kiểm tra, với hệ số tương quan R² đạt trên 0,85 và sai số đỉnh mặn dưới 8%. Bên cạnh đó, bảng tổng hợp chiều dài xâm nhập mặn theo 4 phương án tính toán đã lượng hóa rõ nét hiệu quả của phương án gia tăng lưu lượng xả từ hồ Cửa Đạt trên sông Chu thêm 30 m³/s. Biện pháp này giúp đẩy lùi ranh mặn 1,0 ‰ về phía hạ lưu từ 3 đến 5 km, giải phóng vùng lấy nước ngọt an toàn cho các trạm bơm phục vụ tưới tiêu nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều chỉnh và hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa vùng thượng lưu: Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi phối hợp với Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Thanh Hóa điều hành hồ Cửa Đạt duy trì lưu lượng xả tối thiểu 30 m³/s về hạ lưu sông Chu trong các tháng cao điểm hạn mặn (tháng 2 đến tháng 4), nhằm mục tiêu đẩy lùi ranh mặn 1,0 ‰ về phía hạ lưu trạm Hàm Rồng từ 3 đến 5 km trước năm 2025.

Thứ hai, nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống công trình ngăn mặn, giữ ngọt: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa chủ trì dự án nâng cấp, hiện đại hóa quy trình đóng mở tự động tại âu thuyền Báo Văn, âu Mỹ Quan Trang và tuyến cống ngăn mặn ven biển trong giai đoạn 2024 - 2027, đảm bảo tỷ lệ ngăn mặn đạt 100% trên toàn tuyến sông Hoạt và kênh De để bảo vệ an toàn cho 23.827 ha đất nông nghiệp.

Thứ ba, tái cơ cấu mùa vụ và chuyển đổi cây trồng thích ứng xâm nhập mặn: Ủy ban Nhân dân các huyện ven biển gồm Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa và Hà Trung chỉ đạo chuyển đổi khoảng 3.000 ha đất canh tác lúa thường xuyên thiếu nước sang mô hình luân canh lúa - cói hoặc nuôi trồng thủy sản nước lợ, hoàn thành trước năm 2026 nhằm giảm 25% tổng nhu cầu dùng nước tưới đầu mối trong mùa kiệt.

Thứ tư, xây dựng hệ thống quan trắc tự động và cảnh báo sớm độ mặn thời gian thực: Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa triển khai lắp đặt 8 trạm đo mặn tự động dọc sông Mã, sông Lèn và sông Lạch Trường trong giai đoạn 2024 - 2025, giúp các đơn vị quản lý trạm bơm chủ động lấy nước ngọt trong khung giờ chân triều với ngưỡng mặn kiểm soát nghiêm ngặt dưới 0,8 ‰.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường Thanh Hóa, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai): Khai thác tập bản đồ phân vùng xâm nhập mặn và số liệu cân bằng nước của 10 phân vùng tưới làm căn cứ xây dựng quy hoạch tài nguyên nước, phương án phòng chống hạn mặn và bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt cho hơn 65.000 hộ dân vùng ven biển.

Thứ hai, các đơn vị quản lý và khai thác công trình thủy lợi (Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc/Nam Sông Mã): Vận dụng kết quả tính toán khung giờ xuất hiện độ mặn dưới 1,0 ‰ tại các trạm bơm lớn như Hàm Rồng, Nguyệt Viên, Hoàng Khánh để lập lịch vận hành bơm linh hoạt theo con triều, giúp tiết kiệm tới 30% chi phí điện năng tiêu thụ và loại bỏ nguy cơ đưa nước mặn vào đồng ruộng.

Thứ ba, các kỹ sư, chuyên gia tư vấn thiết kế công trình thủy lợi và môi trường: Sử dụng bộ thông số mô hình thủy lực MIKE 11 (hệ số nhám Manning, hệ số khuếch tán AD) đã được hiệu chỉnh chính xác trên mạng sông có chiều dài dòng chính hơn 512 km để ứng dụng trực tiếp cho các dự án thiết kế đập dâng, cống ngăn mặn và chỉnh trị lòng dẫn vùng Bắc Trung Bộ.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp mô hình thủy lực - truyền mặn một chiều, phương pháp tính toán dòng chảy kiệt thiết kế ứng với các tần suất P = 75%, 90%, 95% và cách thức xử lý chuỗi số liệu khí tượng thủy văn phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Ngưỡng độ mặn tiêu chuẩn nào được áp dụng để đánh giá ranh giới xâm nhập mặn trong nghiên cứu?

Nghiên cứu lấy ngưỡng độ mặn 1,0 ‰ (1 phần nghìn) làm giới hạn quy chuẩn. Nguồn nước có độ mặn vượt quá mức này không còn đảm bảo tiêu chuẩn tưới lúa và cấp nước sinh hoạt. Trong mùa kiệt năm 2010, ranh mặn 1,0 ‰ đã lấn sâu tới 28 km trên dòng chính sông Mã.

Vì sao mô hình MIKE 11 là công cụ tối ưu cho mạng lưới sông vùng hạ lưu sông Mã?

Mô hình MIKE 11 tích hợp sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott có độ ổn định số học cao, giải quyết triệt để hệ phương trình thủy lực Saint-Venant trên mạng sông phân nhánh phức tạp. Mô-đun truyền mặn cho kết quả kiểm định chính xác với hệ số tương quan R² đạt trên 0,85 so với thực tế.

Ý nghĩa của việc tính toán dòng chảy mùa kiệt ứng với tần suất P = 95% là gì?

Tần suất P = 95% đại diện cho điều kiện thủy văn cực hạn với chu kỳ lặp lại khoảng 20 năm một lần, khi lưu lượng sông Mã tại Cẩm Thủy chỉ còn 70,0 m³/s. Việc tính toán kịch bản này giúp các nhà quản lý chủ động thiết lập phương án bảo vệ an toàn tối đa trước rủi ro thiên tai khô hạn.

Việc tăng lưu lượng xả 30 m³/s từ hồ Cửa Đạt mang lại hiệu quả kiểm soát mặn như thế nào?

Mô phỏng cho thấy bổ sung lưu lượng 30 m³/s từ hồ Cửa Đạt vào nhánh sông Chu giúp đẩy lùi ranh mặn 1,0 ‰ về phía biển từ 3 đến 5 km. Giải pháp này kéo dài thời gian lấy nước ngọt an toàn tại trạm bơm Hàm Rồng và Nguyệt Viên thêm từ 2 đến 3 giờ mỗi chu kỳ triều.

Tác động kinh tế xã hội cụ thể nhất của đợt hạn mặn nghiêm trọng năm 2010 tại Thanh Hóa là gì?

Đợt hạn mặn lịch sử năm 2010 làm tê liệt nhiều trạm bơm dọc sông Mã và sông Lèn, đe dọa trực tiếp 23.827 ha lúa đông xuân, trong đó gần 5.000 ha thiếu nước tưới nặng và khoảng 3.000 ha có nguy cơ mất trắng, đồng thời gây thiếu nước sinh hoạt cho hơn 65.000 hộ dân.

Kết luận

  • Hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tài nguyên nước lưu vực sông Mã - Chu rộng 28.490 km², làm rõ đặc tính phân phối dòng chảy bất lợi với 75% lượng dòng chảy tập trung vào mùa lũ và mùa kiệt chỉ chiếm xấp xỉ 25%.
  • Lượng hóa chính xác mức độ xâm nhập mặn cực đoan mùa kiệt năm 2010 với ranh mặn 1,0 ‰ lấn sâu 28 km trên sông Mã và nồng độ mặn đỉnh đo được tại trạm Giàng lên tới 6,1 ‰.
  • Thiết lập và kiểm định thành công bộ công cụ mô hình thủy lực - lan truyền mặn MIKE 11 với độ tin cậy cao dựa trên chuỗi số liệu thực đo chi tiết của hai thời kỳ kiệt năm 2003 và 2010.
  • Mô phỏng và đánh giá toàn diện diễn biến xâm nhập mặn theo các kịch bản tần suất dòng chảy P = 75%, 90%, 95% kết hợp với bài toán gia tăng nhu cầu dùng nước đầu mối đến năm 2020.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình, chứng minh hiệu quả đẩy lùi ranh mặn từ 3 đến 5 km khi tăng lưu lượng xả thêm 30 m³/s từ hồ Cửa Đạt.

Công trình là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp nền tảng cho công tác quy hoạch tài nguyên nước và kiểm soát hạn mặn tại tỉnh Thanh Hóa. Lộ trình triển khai tiếp theo giai đoạn 2024 - 2030 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhằm hiện đại hóa mạng lưới đo mặn tự động và tối ưu hóa quy trình điều tiết liên hồ chứa. Các đơn vị quản lý thủy nông và chính quyền địa phương cần ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn khai thác nguồn nước để bảo vệ mùa màng và bảo đảm phát triển kinh tế xã hội bền vững cho khu vực hạ lưu sông Mã.