Nghiên cứu chế độ động lực học vùng cửa tùng sông Bến Hải (tỉnh Quảng Trị) dưới tác động công trình thủy lợi

Tìm hiểu chế độ động lực học vùng cửa sông Bến Hải ở Quảng Trị. Phân tích chi tiết tác động của các yếu tố thủy văn đến sự biến động nước mặn.

Trường đại học

Trường Đại Học Thuỷ Lợi

Chuyên ngành

Thủy văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

2013

151
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vùng cửa Tùng sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị

Vùng cửa Tùng thuộc sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, là khu vực có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về thủy văn và sinh thái ven biển miền Trung Việt Nam. Sông Bến Hải bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy theo hướng Tây - Đông trước khi đổ ra biển Đông qua cửa Tùng. Khu vực này chịu tác động mạnh mẽ từ chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa gió rõ rệt: gió mùa Đông Bắc lạnh từ tháng XI đến tháng III và gió Tây Nam khô nóng (gió Lào) vào mùa hạ. Lượng mưa trung bình tại đây đạt khoảng 51 mm/tháng trong mùa khô, nhưng tăng đột biến vào mùa lũ. Chế độ thủy triều ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy cửa sông, tạo ra các biến đổi phức tạp về địa hình đáy và vận chuyển bùn cát. Các công trình thủy lợi được xây dựng trên lưu vực sông Bến Hải đã làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy tự nhiên, gây ra những tác động sâu sắc đến động lực học vùng cửa sông. Nghiên cứu hệ thống và toàn diện về chế độ động lực học tại đây là yêu cầu cấp thiết để phục vụ quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường ven biển.

1.1. Đặc điểm địa hình và khí hậu vùng cửa Tùng

Vùng cửa Tùng nằm ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng ven biển và biển Đông, có địa hình thấp và bằng phẳng. Khí hậu khu vực mang đặc trưng nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt độ trung bình năm cao. Gió đất - biển hoạt động theo chu kỳ ngày đêm dọc ven biển Quảng Trị, tạo điều kiện lưu thông không khí thuận lợi. Gió khô nóng (gió Lào) xuất hiện trung bình 50-60 ngày mỗi năm tại vùng đồng bằng Đông Hà, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ bốc hơi và cân bằng nước của lưu vực sông Bến Hải.

1.2. Vai trò của sông Bến Hải trong hệ thống thủy văn Quảng Trị

Sông Bến Hải là một trong những con sông chính của tỉnh Quảng Trị, đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nước ngọt cho nông nghiệp và sinh hoạt. Lưu vực sông có diện tích đáng kể, với hệ thống tributaries phân nhánh từ vùng núi Trường Sơn. Dòng chảy sông chịu ảnh hưởng đồng thời của mưa lũ thượng nguồn, thủy triều từ biển Đông và các công trình thủy lợi trên lưu vực. Sự tương tác phức tạp này tạo ra chế độ thủy động lực đặc thù tại vùng cửa Tùng, đòi hỏi nghiên cứu chuyên sâu bằng mô hình toán học.

II. Phân tích tác động của công trình thủy lợi đến động lực học cửa Tùng

Các công trình thủy lợi xây dựng trên lưu vực sông Bến Hải đã tạo ra những biến đổi căn bản trong chế độ động lực học vùng cửa Tùng. Hồ chứa và đập điều tiết làm giảm lưu lượng đỉnh lũ, kéo dài thời gian rút lũ và thay đổi phân phối dòng chảy theo mùa. Sự thay đổi này tác động trực tiếp đến cân bằng bùn cát tại cửa sông. Khi lưu lượng giảm, khả năng vận chuyển bùn cát từ thượng nguồn ra biển suy yếu, dẫn đến bồi lắng cục bộ tại vùng cửa. Ngược lại, khi xả lũ điều tiết, dòng chảy tập trung với lưu lượng lớn gây xói lở bờ và đáy sông. Thủy triều tương tác với dòng chảy sông tạo ra vùng giao thoa phức tạp. Độ mặn xâm nhập sâu vào nội địa khi lưu lượng sông giảm do điều tiết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp vùng hạ lưu. Nghiên cứu định lượng các tác động này đòi hỏi áp dụng mô hình thủy động lực học kết hợp phân tích số liệu quan trắc thực địa dài hạn.

2.1. Biến đổi chế độ dòng chảy và xâm nhập mặn

Công trình thủy lợi điều tiết lưu lượng làm thay đổi cân bằng nước ngọt - nước mặn tại cửa Tùng. Khi lưu lượng sông giảm vào mùa kiệt, thủy triều đẩy nước mặn xâm nhập sâu vào sông. Ranh giới mặn dịch chuyển bất thường so với điều kiện tự nhiên, gây khó khăn cho lấy nước tưới tiêu. Phân tích số liệu quan trắc tại các trạm thủy văn trên sông Bến Hải cho thấy xu hướng gia tăng xâm nhập mặn trong những thập kỷ gần đây, tương quan rõ ràng với quá trình phát triển các công trình thủy lợi.

2.2. Biến động địa hình đáy và bùn cát cửa sông

Chế độ bùn cát tại cửa Tùng bị tác động bởi sự thay đổi lưu lượng từ thượng nguồn do các hồ chứa giữ lại bùn cát. Vùng cửa sông có xu hướng bị xói lở do thiếu hụt bùn cát bổ sung từ thượng lưu. Đồng thời, sóng biển và dòng ven bờ vận chuyển bùn cát từ bờ biển vào cửa sông, gây bồi lấp luồng tàu. Cân bằng giữa xói lở và bồi lắng thay đổi theo mùa và theo chế độ vận hành công trình, tạo ra sự bất ổn định địa hình đáy cửa sông cần được theo dõi và đánh giá liên tục.

III. Phương pháp mô hình toán nghiên cứu thủy động lực cửa Tùng

Luận văn của tác giả Lưu Thị Thu Hiền (Trường Đại học Thủy Lợi, 2013) áp dụng ba nhóm phương pháp chính trong nghiên cứu chế độ động lực học vùng cửa Tùng. Phương pháp phân tích xác suất thống kê thủy văn được dùng để thu thập, xử lý và phân tích tài liệu địa hình, địa chất và thủy văn tại các trạm quan trắc trên lưu vực. Phương pháp mô hình toán là công cụ chủ đạo, mô phỏng diễn biến dòng chảy trong sông và vùng cửa sông thông qua các phương trình toán học. Điều kiện ban đầu và điều kiện biên được xác định từ số liệu thủy văn, thủy lực thực đo. Mô hình toán cho phép tính toán nhanh chóng với độ chính xác cao nhờ năng lực xử lý của máy tính hiện đại. Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp đánh giá đồng thời các yếu tố tự nhiên như dòng chảy, thủy triều, sóng và các yếu tố nhân tạo từ công trình thủy lợi. Sự kết hợp ba phương pháp này cho phép có cái nhìn toàn diện về chế độ động lực học cửa Tùng trong điều kiện có và không có các công trình thủy lợi.

3.1. Xây dựng và hiệu chỉnh mô hình thủy động lực

Mô hình toán thủy động lực được xây dựng dựa trên hệ phương trình Saint-Venant mô tả dòng chảy một chiều và hai chiều trong sông và cửa sông. Quá trình hiệu chỉnh mô hình sử dụng số liệu quan trắc thực đo tại các trạm thủy văn trên sông Bến Hải. Các thông số mô hình như hệ số nhám Manning được điều chỉnh cho đến khi kết quả tính toán phù hợp với số liệu thực đo. Sau khi hiệu chỉnh, mô hình được kiểm định bằng tập số liệu độc lập để đảm bảo độ tin cậy trước khi áp dụng cho các kịch bản dự báo.

3.2. Thiết lập kịch bản tính toán và điều kiện biên

Các kịch bản tính toán được thiết lập dựa trên các chế độ vận hành khác nhau của công trình thủy lợi, kết hợp với điều kiện thủy triều và lưu lượng sông đặc trưng. Điều kiện biên phía thượng lưu là quá trình lưu lượng tại trạm thủy văn đầu mối, điều kiện biên hạ lưu là mực nước thủy triều tại cửa biển. Mô hình cho phép so sánh chế độ dòng chảy, vận tốc và xâm nhập mặn trước và sau khi xây dựng công trình, từ đó định lượng tác động của các công trình thủy lợi đến động lực học vùng cửa Tùng.

IV. Kết quả và ứng dụng quản lý vùng cửa Tùng Quảng Trị

Kết quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ kỹ thuật về chế độ động lực học vùng cửa Tùng cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước tại tỉnh Quảng Trị. Mô hình toán được xây dựng và hiệu chỉnh thành công có thể sử dụng như công cụ hỗ trợ ra quyết định trong vận hành hồ chứa và điều tiết lũ. Kết quả mô phỏng chỉ ra rõ ràng phạm vi và mức độ xâm nhập mặn dưới các điều kiện vận hành khác nhau của công trình thủy lợi. Những thông tin này có giá trị thiết thực cho ngành nông nghiệp trong việc lập kế hoạch lấy nước tưới tiêu, tránh nhiễm mặn. Đánh giá biến động địa hình đáy cửa sông giúp cơ quan quản lý cảng và đường thủy nội địa hoạch định công tác nạo vét và duy tu luồng lạch. Nghiên cứu cũng đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại vùng cửa sông ven biển miền Trung, nơi đang chịu áp lực ngày càng tăng từ phát triển kinh tế và biến đổi môi trường.

4.1. Đề xuất giải pháp vận hành công trình thủy lợi hợp lý

Dựa trên kết quả phân tích mô hình, nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành hợp lý cho các công trình thủy lợi trên lưu vực sông Bến Hải nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến vùng cửa Tùng. Trong mùa kiệt, duy trì lưu lượng tối thiểu đẩy mặn là biện pháp ưu tiên. Trong mùa lũ, điều tiết xả lũ theo kịch bản tối ưu giúp hạn chế xói lở bờ sông hạ lưu. Phối hợp vận hành giữa các hồ chứa trên cùng lưu vực có thể nâng cao hiệu quả kiểm soát mặn và giảm thiểu bồi lấp cửa sông.

4.2. Định hướng nghiên cứu và giám sát lâu dài cửa Tùng

Kết quả luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của hệ thống quan trắc liên tục tại vùng cửa Tùng, bao gồm các trạm đo mực nước, lưu lượng, độ mặn và địa hình đáy. Dữ liệu quan trắc dài hạn là nền tảng để cập nhật và nâng cấp mô hình toán theo diễn biến thực tế. Nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng, vào mô hình dự báo. Hướng mở rộng sang mô hình hai chiều và ba chiều sẽ mô phỏng chính xác hơn các hiện tượng thủy động lực phức tạp tại vùng cửa sông ven biển Quảng Trị.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu chế độ động lực học vùng cửa tùng sông bến hải tỉnh quảng trị dưới tác động của các công trình thủy lợi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TÓM LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Quảng Trị là một tỉnh ở Bắc Trung Bộ nằm trong khoảng 106032'-107024' P P P P kinh độ Đông, 16018'-17010' vĩ độ Bắc, cách Hà Nội 582 km về phía Nam và cách P P P P thành phố Hồ Chí Minh 1121 km về phía Bắc.

Phía Bắc tỉnh Quảng Trị giáp Quảng Bình, phía Nam giáp Thừa Thiên Huế, phía Tây giáp tỉnh Savanakhet (Lào) và phía đông giáp Biển Đông. Vùng tính toán từ cầu Hiền Lương đến vùng ven biển Cửa Tùng. Bãi biển Cửa Tùng trải dài gần 1 km nằm ở thôn An Đức, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị). Kề sát phía Nam bãi biển là cửa của dòng sông Hiền Lương.

Vùng nghiên cứu kéo dài từ cầu Hiền Lương đến vùng ven biển Cửa Tùng. Toạ độ địa lý nằm trong khoảng từ 170 07’ 67’’ đến 160 96’ 73’’ vĩ độ Bắc và P P P P từ1070 05’ 30’’ đến 1070 05’ 70’’ kinh độ Đông.1: Đặc điểm địa hình HVTH: Lưu Thị Thu Hiền Lớp CH19V Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kỹ thuật -6- Ngành Thủy văn học Tỉnh Quảng Trị chủ yếu nằm ở phần đông của dãy Trường Sơn có đường biên giới chung với Lào dài 206 km thuộc đất liền và có đường bờ biển dài 75 km. Ðịa hình tỉnh đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng và cồn cát ven biển chạy dọc theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Các khối núi thấp và trung bình tập trung chủ yếu ở phía Tây Bắc của lãnh thổ.

Địa hình bao gồm nhiều loại nhưng nét nổi bật là dốc nghiêng từ Tây sang Đông. Ở phía Tây là vùng núi cao rồi hạ xuống vùng đồi và núi thấp với tổng diện tích khoảng 81% diện tích toàn lãnh thổ, tiếp theo vùng đồi và núi thấp là vùng đồng bằng chiếm 11,5% diện tích và phía đông là vùng cồn cát ven biển. Địa hình của lưu vực sông Bến Hải có thể chia làm hai phần rõ rệt: - Lưu vực sông Bến Hải bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về sông Bến Hải. Địa hình lưu vực khá phức tạp, sông trong lưu vực này có độ dốc lớn từ 150/ 00 đến P P R R 800/ 00 , độ dốc sườn núi khoảng 3000/ 00.

P P R R P P R R - Lưu vực vùng đồng bằng hạ lưu sông Bến Hải: Nhìn chung địa hình đồng bằng khá đơn giản, cao độ tương đối bằng phẳng và thay đổi từ +0,5 đến +3,5m, xen kẽ các đồng ruộng và các khu nuôi trồng thủy sản là các cụm dân cư ở cao độ trên +3,0 đến +5,0m. Vùng nghiên cứu có thế dốc chung từ đỉnh Trường Sơn đổ ra biển. Do sự phát triển của các bình nguyên đồi thấp nên địa hình ở vùng này rất phức tạp. Địa chất, thổ nhưỡng 1.

Đặc điểm địa chất. Địa tầng phát triển không liên tục, các trầm tích từ Paleozoi hạ tới Kainozoi trong đó trầm tích Paleozoi chiếm chủ yếu, gồm 9 phân vị địa tầng, còn lại 6 phân vị thuộc Meôzoi và Kainozoi. Địa chất trong vùng có những đứt gãy chạy theo hướng từ đỉnh Trường Sơn ra biển tạo thành các rạch sông chính cắt theo phương Tây Đông. Tầng đá gốc ở đây nằm sâu, tầng phủ dày.

Phần thềm lục địa được thành tạo từ trầm tích sông biển và sự di đẩy của dòng biển tạo thành. HVTH: Lưu Thị Thu Hiền Lớp CH19V Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kỹ thuật -7- Ngành Thủy văn học Vỏ phong hoá chủ yếu phát triển trên đất đá bazan (Vĩnh Linh) vùng trầm tích biển và phù sa sông, gồm các tiểu vùng: bazan Vĩnh Linh, cồn cát, bãi cát dọc bờ biển, đất nhiễm mặn Cửa Tùng. Đặc điểm thổ nhưỡng. Lớp phủ thổ nhưỡng tỉnh Quảng Trị đặc trưng bởi gần 80% diện tích lãnh thổ là đất hình thành tại chỗ, bao gồm hầu hết đất thoát nước, chịu ảnh hưởng của quá trình feralit hoá dưới chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và thảm thực vật rừng nhiệt đới.

Đất có nguồn gốc bồi đắp của hệ thống thuỷ văn chiếm 20%, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và ven biển. Sự phong phú của các chủng loại đất dẫn tới sự khác biệt về điều kiện sinh thái, thích ứng cho nhiều quần xã thực vật khác nhau. Từ rừng rậm nhiệt đới gió mùa thường xanh trên đất thoát nước tới rừng ngập mặn nhiệt đới, rừng rậm thường xanh nhiệt đới trên cát ven biển đa dạng, phong phú trước khi có sự tác động của con người. Dựa trên các yếu tố hình thành đất và quá trình hình thành đất, có thể nêu khái quát một số nhóm đất chính ở vùng cửa sông ven biển tỉnh Quảng Trị như sau: Đất cát biển: Phân bố thành vùng rộng lớn thuộc các huyện duyên hải từ Vĩnh Linh tới Hải Lăng, chiều rộng trung bình 5 - 6 km.

Gồm các cồn cát, bãi cát với thành phần chính là cát trắng, cát vàng và đất cát triều chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước kém, chỉ trồng được một số loại cây hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn để chống gió và cát bay trên biển. Đất mặn: Phân bố rải rác ở Cửa Việt, Cửa Tùng trên đất mặn nhiều chủ yếu là đất mặn tràn bởi thuỷ triều, ruộng muối, đất mặn sú vẹt lầy thụt thành phần cát bùn. Thảm thực vật ngập mặn ít nhiều còn tồn tại với các loài chịu ngập mặn.

Đất mặn ít và trung bình chịu ảnh hưởng của mạch nước lợ hoặc nước nhiễm mặn. Đất phù sa: Chủ yếu thuộc vùng phù sa được bồi của 2 hệ thống sông Bến Hải, Thạch Hãn và sông suối các huyện miền núi trong tỉnh. Nhóm đất này được chia thành các loại đất chính sau: HVTH: Lưu Thị Thu Hiền Lớp CH19V Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kỹ thuật -8- Ngành Thủy văn học - Đất phù sa được bồi: Phân bố ngoài đê các hệ thống sông chính thuộc đồng bằng và ven suối thượng du. Thành phần cơ giới nhẹ, giữ nước kém.

- Đất phù sa không được bồi: Phân bố hầu hết khắp các huyện đồng bằng, trên các địa hình thấp, trong đê. Chế độ ngập kéo dài, quá trình glây ít nhiều xuất hiện. - Đất phù sa glây mạnh chủ yếu trên địa hình thấp, lòng chảo, chịu úng lụt thường xuyên chủ yếu do chế độ mưa mùa hè. - Đất lầy thụt: Ngập nước thường xuyên, phân bố rải rác trong các huyện đồng bằng và trung du.

Thảm phủ thực vật Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng bị huỷ diệt khốc liệt, lớp phủ thực vật bị tàn phá. Rừng trồng theo chương trình hỗ trợ của PAM dọc các quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển nhanh và có hiệu quả môi trường rõ rệt. Từ các chương trình Quốc gia 327, 264 và kế hoạch trồng rừng, trồng cây nhân dân của cấp tỉnh, phát động và đầu tư, đã nâng cao tỷ lệ che phủ rừng khá nhanh, độ che phủ rừng đã tăng bình quân 1%/năm. Mạng lưới sông ngòi Hệ thống sông ngòi Quảng Trị chủ yếu đều bắt nguồn từ phía Đông của dãy Trường Sơn, chảy qua vùng trung du, đồng bằng rồi đổ ra biển qua Cửa Việt, Cửa Tùng và phá Tam Giang.

Có sự phân hóa rõ rệt theo mùa. Quảng Trị có 12 con sông lớn tập trung thành 3 hệ thống chính, đó là: Bến Hải, Thạch Hãn và Ô Lâu (Mỹ Chánh). Đặc điểm chung của các hệ thống sông ở đây là ngắn dưới 100 km, hướng chảy từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình khoảng 13-25 m/km, lòng sông hẹp, nhiều ghềnh thác. Mật độ sông ngòi toàn tỉnh vào khoảng 0,8-1km/km2, tăng dần từ P P Đông sang Tây: đồng bằng mật độ sông ngòi 0,4-0,5 km/km2, miền núi đạt trên 1 P P km/km2.

P P HVTH: Lưu Thị Thu Hiền Lớp CH19V Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kỹ thuật -9- Ngành Thủy văn học Hình 1.2: Sơ đồ mạng lưới sông suối tỉnh Quảng Trị  Hệ thống sông Bến Hải Sông Bến Hải dài 65km, lưu vực có diện tích khoảng 809km2, chiếm khoảng P P 20% lãnh thổ tỉnh. Sông bắt nguồn từ khu vực Động Châu có độ cao 1257m. Các phụ lưu ở thượng nguồn gồm có sông Sa Lung (Bến xe) và sông Rào Thanh. Lưu lượng trung bình năm 43,4m3/s.

Sông đổ ra biển ở Cửa Tùng. P P  Hệ thống sông Thạch Hãn Hệ thống sông Thạch Hãn có quy mô lớn nhất, chiều dài 155 km, diện tích lưu vực 2660 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình năm 130 m3/s. Hệ thống sông P P P P HVTH: Lưu Thị Thu Hiền Lớp CH19V Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kỹ thuật - 10 - Ngành Thủy văn học Thạch Hãn có hai chi nhánh lớn là sông Hiếu Giang ở phía Bắc và sông Thạch Hãn ở phía Nam, gặp nhau tại Thượng Nghĩa, đổ ra biển tại Cửa Việt. Sông Thạch Hãn ở phía Nam có quy mô lớn hơn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mui, Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán), Động Ba Lê, Động Dang (nhánh Đakrông).

Hiện đang xây dựng nhà máy thủy điện Rào Quán trên lưu vực nhánh Rào Quán tại khu vực xã Làng Miệt.  Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh) Hệ thống sông này được hợp bởi hai nhánh sông chính là Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc. Tổng lưu vực của hai sông khoảng 900 km2, chiều P P dài 65 km. Sông đổ vào phá Tam Giang thuộc địa phận Thừa Thiên Huế.

Ngoài ra, Quảng Trị còn có một số sông nhỏ, thượng nguồn sông Sê Pon đổ vào lưu vực Mê Kông. Hệ thống suối phát triển rất mạnh ở phần thượng nguồn, tạo nên mạng lưới khá dày đặc. Các thung lũng suối phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp. Như đã trình bày trên, hệ thống sông ngòi khu vực nghiên cứu thường ngắn và dốc, chảy xiết về mùa lũ, vì vậy sau mưa thượng nguồn, nước tập trung về đồng bằng nhanh, gây ngập lụt.

Vai trò của chế độ thuỷ văn với khả năng điều tiết của thảm thực vật rất lớn, nhất là đối với các loại hình rừng rậm thường xanh. Do địa hình lãnh thổ nghiên cứu hẹp và dốc nên sông suối thường ngắn, có độ dốc lớn, khả năng tập trung nước nhanh. Vùng đồng bằng ven biển thấp, cửa tiêu thoát hẹp, hoặc không thuận, nước sông nhanh chóng tập trung về đồng bằng, nên hễ có mưa to là có lũ, ngay cả trong mùa hè, đó là lũ tiểu mãn. Nước lên với cường suất rất cao nhưng lại rút chậm do ảnh hưởng của thuỷ triều và các đường ngăn lũ, nên vùng đồng bằng ven sông thường bị nước lên xuống thất thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ