MỞ ĐẦU Khí hậu có mối quan hệ mật thiết và khăng khít tới tất cả các hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu gây ra những biến đổi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đối với mỗi quốc gia, từ đó ảnh hưởng tới điều kiện kinh tế và xã hội của con người. Do đó, biến đổi khí hậu toàn cầu đang là mối quan tâm lớn nhất không chỉ đối với một quốc gia cụ thể nào mà là mối quan tâm chung của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Biến đổi khí hậu đã và đang từng ngày, từng giờ gây những ảnh hưởng, những tác động xấu tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển - đang là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngân hàng thế giới cảnh báo khi mực nước biển tăng 1m thì 5% diện tích đất Việt Nam bị ngập, làm 11% dân số bị ảnh hưởng và GDP có thể giảm 10%. Nghệ An là một trong những tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ, là một trong số những địa phương "nhạy cảm" nhất với Biến đổi khí hậu của Việt Nam. Nghệ An cũng là nơi chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng cao như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, úng hạn và xâm nhập mặn.
Đặc biệt, vùng cát ven biển là nơi dễ bị tổn thương bởi các tác động của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, cường độ các loại thiên tai ngày càng mạnh hơn. Việc cung cấp thêm thông tin nhằm hoạch định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương, giúp tìm ra những biện pháp ứng phó phù hợp là rất cần thiết. Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động kinh tế vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Đề xuất giải pháp ứng phó”. Đây là nghiên cứu có ý nghĩa, mang tính thiết thực đối với các nhà quản lý tại địa phương.
Nghiên cứu tại Nghệ An cũng là những đề xuất ban đầu làm tiền đề để ứng dụng nghiên cứu cho các địa phương khác trong cả nước. z Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động kinh tế vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Đề xuất giải pháp ứng phó CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 1.
Khái niệm về biến đổi khí hậu A. Khái niệm Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO): biến đổi khí hậu là sự vận động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của nó do các ngoại lực hoặc do hoạt động của con người. Theo định nghĩa của Công ước khung của Liên hiệp Quốc về BĐKH: Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu BĐKH có hai nguyên nhân chính: do quá trình tự nhiên và do con người.
Nguyên nhân tự nhiên là những quá trình tự nhiên như sự biến động của cường độ bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bụi núi lửa tập trung nhiều phản xạ bức xạ mặt trời vào không trung. Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng, hoạt động của con người đã và đang làm BĐKH toàn cầu kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu là các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4, N2O, CFCs, HCFCs. Sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Vai trò của khí nhà kính đối với BĐKH và những đặc trưng của chúng chỉ có ý nghĩa khi xét trên qui mô toàn cầu.
Vì vậy, những kết quả đo đạc thường là những đặc trưng mang tính toàn cầu. Những kết quả đo đạc được cho thấy nhiều loại khí Trần Thị Hạnh Trang - K17 Khoa học môi trường 2 z Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động kinh tế vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Đề xuất giải pháp ứng phó nhà kính chiếm tỷ lệ thấp có xu thế tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Những nghiên cứu chỉ rõ, có mối liên quan giữa sự tăng lên của nhiệt độ bề mặt trái đất với sự tăng lên nồng độ của một số loại khí nhà kính trong khí quyển như CO 2 và CH4. Khí quyển hiện nay có khoảng 750 tỷ tấn cacbon.
Đại dương chứa lượng cacbon gấp khoảng 50 lần, sinh quyển trái đất khoảng 3 lần và lục địa khoảng 5 lần nhiều hơn trong khí quyển. Số liệu về sản xuất năng lượng cho thấy nồng độ CO 2 tăng hàng năm khoảng 4,4% cho tới khi có cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1974. Sau đó, mức tăng giảm dần vào khoảng những năm 1980. Nhu cầu về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm phần lớn.
Mặc dù năng lượng hạt nhân hoặc một số dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với nhu cầu năng lượng nói chung. Sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kể nồng độ khí CO2 trong khí quyển, trong đó các nước phát triển đóng góp phần lớn. Như vậy, phát thải khí nhà kính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến BĐKH hiện nay. Đây cũng là lý do vì sao BĐKH là một vấn đề mang tính toàn cầu.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan từ Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và gian băng (khoảng 18 nghìn năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180-200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm, và đạt 385ppm vào năm 2008 (vượt qua mức an toàn là 350ppm) nghĩa là tăng khoảng 38% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong 650. Hiện nay nồng độ CO2 trong khí quyển là 391,06ppm (04/2010). Mỗi năm con người thải vào khí quyển 22 tỷ tấn CO2 do đốt năng lượng hóa thạch, trong đó việc đốt, phá rừng và sản xuất nông nghiệp đóng khoảng 2 đến 9 tỷ tấn.
Trần Thị Hạnh Trang - K17 Khoa học môi trường 3 z Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động kinh tế vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Đề xuất giải pháp ứng phó Hàm lượng các khí nhà kính khác nhau như khí metan (CH4), oxit nito (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715 ppb (phần tỷ) và 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319 ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro cacbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ozôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển. Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng vv… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành hóa chất (CFCs, HCFCs) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác. Thực trạng và xu thế của BĐKH toàn cầu 1.
Thực trạng BĐKH toàn cầu Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính Phủ về BĐKH (IPCC) công bố năm 2007 nhận định rằng: Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc về sự gia tăng của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu. */ Về nhiệt độ - Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1806-2005) là 0,74oC, lớn hơn xu thế tăng nhiệt độ 100 năm thời kỳ 1801-2000, trong đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ đã tăng 1,5oC, gấp đôi tỉ lệ tăng trung bình toàn cầu - Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13oC/thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng nhiệt độ của 100 năm qua. Nhiệt độ tăng tổng cộng từ giai đoạn 1850-1899 đến 2001-2005 là 0,76oC (0,58-0,95oC) Trần Thị Hạnh Trang - K17 Khoa học môi trường 4 z Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động kinh tế vùng ven biển tỉnh Nghệ An; Đề xuất giải pháp ứng phó - 11/12 năm gần đây (1995-2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc bằng máy kể cả năm 1850. Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2003 tăng 0,460C so với trung bình thời kỳ 1971 - 2000, là năm ấm thứ ba kể từ năm 1861.
Trong đó, chuẩn sai nhiệt độ bán cầu Bắc là + 0,590C và bán cầu Nam: +0,320C. Năm ấm thứ hai là 2002 với chuẩn sai nhiệt độ là + 0,480C. Kể từ năm 1861 đến 2003 có 5 năm ấm nhất được xếp thứ tự như sau: 1998, 2002, 2003, 2001 và 1995. Rõ ràng, 5 năm nóng nhất của trên 100 năm qua đều rơi vào thập niên gần đây.
Nhiệt độ trung bình toàn cầu (1860-2000) (Nguồn: IPCC 2007. AR4) */ Nước biển dâng: Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ trước 1962-2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 10 năm 1993- 2003. Tổng cộng, mực nước biển dâng quan trắc được là 0.07)/100 năm gần đây */ Băng tan: - Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ trung bình 2,7% 1 thập kỷ. Riêng mùa hè là 7,4%/1 thập kỷ.