Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km với trên 75% dân số sinh sống tập trung tại các dải đồng bằng ven biển. Trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, Đồng bằng sông Hồng được nhận định là một trong những khu vực chịu tổn thương nghiêm trọng nhất trước hiện tượng nước biển dâng, bão lũ và xâm nhập mặn. Vườn Quốc gia Xuân Thủy thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á được công nhận từ năm 1989, đồng thời là vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng. Nơi đây giữ vai trò sinh thái đặc biệt quan trọng với diện tích vùng lõi 7.100 ha và vùng đệm trải rộng trên 40,18 km2.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá toàn diện những tác động đa chiều của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đất ngập nước và đời sống sinh kế cộng đồng dân cư địa phương. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích diễn biến khí tượng thủy văn trong 15 năm; xác định mức độ suy thoái các quần xã sinh vật vùng lõi; đánh giá năng lực thích ứng của 5 xã vùng đệm gồm Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp ứng phó đồng bộ. Nghiên cứu được thực hiện tại hiện trường trong giai đoạn 2012 - 2013 với chuỗi số liệu hồi cứu 20 năm (1990 - 2009). Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo tồn hơn 220 loài chim nước, duy trì 3.100 ha đất nổi có rừng ngập mặn và ổn định an sinh xã hội cho 43.307 nhân khẩu tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem-based Approach - EbA) kết hợp tiếp cận dựa vào cộng đồng (Community-based Approach - CBA). Tiếp cận hệ sinh thái xem con người là trung tâm của hệ thống sinh thái - xã hội, bảo tồn thiên nhiên gắn liền với việc mang lại phúc lợi bền vững cho cộng đồng. Tiếp cận dựa vào cộng đồng phát huy tối đa tính chủ động của người dân địa phương theo nguyên tắc thực hiện từ cộng đồng, dựa vào cộng đồng và vì lợi ích cộng đồng.

Nghiên cứu sử dụng khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), xác định tính tổn thương là hàm số của mức độ phơi bày, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng. Các khái niệm nền tảng bao gồm: Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng, Thích ứng (Adaptation), Giảm nhẹ (Mitigation) và Vùng đất ngập nước Ramsar. Khung lý thuyết này tạo nền tảng vững chắc để phân tích mối tương tác phức tạp giữa các yếu tố khí hậu cực đoan với hệ sinh thái tự nhiên và cơ cấu kinh tế - xã hội ven biển.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tích hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu khí tượng thủy văn trạm Nam Định giai đoạn 1990 - 2009, kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011, ảnh viễn thám GIS cửa Ba Lạt; dữ liệu sơ cấp thu thập qua đợt khảo sát thực địa chuyên sâu vào tháng 12/2012 cùng dự án JICA.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 150 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 5 xã vùng đệm, bảo đảm đại diện đầy đủ các nhóm sinh kế: nông nghiệp trồng lúa, nuôi trồng thủy sản đầm bãi và khai thác tự nhiên. Nghiên cứu tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý cấp tỉnh, huyện và 5 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD). Phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp công cụ ma trận xếp hạng rủi ro, phân tích lịch mùa vụ và quan sát hiện trường được lựa chọn vì tính linh hoạt, giúp phản ánh chân thực nhận thức bản địa từ dưới lên. Quá trình phân tích dữ liệu không gian sử dụng phần mềm GIS để đối chiếu biến động đường bờ biển và bồi xói cửa Ba Lạt qua các mốc thời gian 1989, 2003 và 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diễn biến khí hậu tại khu vực nghiên cứu có xu hướng cực đoan hóa rõ rệt. Số liệu quan trắc 20 năm cho thấy nhiệt độ trung bình năm đạt 24°C với biên độ biến thiên rất lớn từ 6,8°C đến 40,1°C. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.750 - 1.800 mm, ghi nhận năm cao nhất lên đến 2.754 mm và năm thấp nhất chỉ 978 mm. Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tại Nam Định dự báo tăng 2,7°C, lượng mưa tăng từ 7% đến 8% và mực nước biển dâng từ 57 cm đến 73 cm, khiến nhiều diện tích đất thấp bị ngập chìm.

Thứ hai, quá trình bồi tụ và xói lở tại cửa Ba Lạt diễn ra phức tạp dưới tác động của dòng chảy sông Hồng mang 114 tỷ m3 nước và 115 triệu tấn bùn cát mỗi năm. Địa hình cồn Lu, cồn Ngạn bị xói lở nghiêm trọng, làm đứt đoạn 3 km dòng chảy tự nhiên của sông Trà. Tuyến đê Vành Lược và đê Ngự Hàn liên tục chịu áp lực triều cường và sóng bão. Độ che phủ tầng tán của các quần hợp thực vật ưu thế như Sú (Aegiceras corniculatum) và Trang (Kandelia candel) bị suy giảm mạnh từ 100% xuống chỉ còn 40% đến 50% do hiện tượng khô ngọn và rụng cành non; toàn bộ các cá thể Bần chua trưởng thành tại Cồn Lu xuất hiện dấu hiệu gãy cành và chết khô cục bộ.

Thứ ba, hệ sinh thái động vật và sinh kế địa phương bị tổn thương sâu sắc. Nghiên cứu thống kê được 220 loài chim thuộc 41 họ, trong đó có 14 loài quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN như Cò thìa (Platalea minor) với khoảng 45 cá thể ghi nhận năm 2012. Khoảng 78,6% lực lượng lao động vùng đệm phụ thuộc vào nông nghiệp và 16,2% phụ thuộc vào thủy sản. Các hiện tượng rét đậm, nắng nóng kéo dài và bão lũ gây thiệt hại lớn cho mùa vụ, buộc người dân nghèo phải tốn từ 8 đến 10 tiếng mỗi ngày di chuyển sâu vào vùng lõi để khai thác thủy sản tự nhiên, gia tăng áp lực lên vùng bảo tồn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những biến động trên xuất phát từ sự tương tác kép giữa hiện tượng ấm lên toàn cầu, nước biển dâng và các hoạt động can thiệp nhân sinh như quai đê lấn biển, đắp đầm nuôi tôm ngăn cản dòng lưu thông thủy triều tự nhiên. Sự suy thoái tầng tán rừng ngập mặn làm giảm khả năng chắn sóng, gia tăng xâm nhập mặn vào sâu nội đồng trên 20 km dọc theo các nhánh sông trong mùa kiệt.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu thế biến thiên nhiệt độ - lượng mưa trạm Nam Định và bảng ma trận đánh giá mức độ phơi bày của các kiểu sinh cảnh. Bản đồ chồng xếp GIS giai đoạn 1989 - 2007 minh chứng tốc độ tiến ra biển bình quân từ 17 m đến 83 m mỗi năm ở các bãi bồi mới nhưng lại đi kèm hiện tượng xói lở cục bộ sạt lún chân cồn cát. So sánh với các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long và kết luận của tổ chức quốc tế (IPCC, WB), các phát hiện tại VQG Xuân Thủy hoàn toàn tương đồng về tính chất dễ bị tổn thương của dải đất ngập nước ven biển, khẳng định tính cấp thiết phải chuyển đổi mô hình quản lý tài nguyên thích ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, khôi phục và mở rộng bể hấp thụ các-bon rừng ngập mặn. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Thủy phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định triển khai trồng phục hồi 500 ha rừng ngập mặn hỗn giao gồm các loài bản địa như Trang, Sú kết hợp thử nghiệm loài Bần không cánh (Sonneratia apetala) và Đước (Rhizophora stylosa) tại Cồn Lu, Cồn Xanh; hoàn thành mục tiêu che phủ trên 85% diện tích bãi bồi vào năm 2026.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng đê kè chắn sóng và thủy lợi thích ứng. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định chủ trì thực hiện dự án kiên cố hóa 15 km tuyến đê biển Ngự Hàn và đê Vành Lược với cao trình chịu mặn tăng thêm 0,6 m, kết hợp khơi thông dòng chảy 3 km sông Trà bị bồi lấp; lộ trình hoàn thành trong giai đoạn 2024 - 2028.

Thứ ba, chuyển đổi mô hình sinh kế sinh thái bền vững cho cộng đồng vùng đệm. Phòng Nông nghiệp huyện Giao Thủy phối hợp với Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) hướng dẫn 12.975 hộ dân áp dụng kỹ thuật nuôi ngao vạng sinh thái, nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp phát triển du lịch sinh thái quan sát chim di trú; mục tiêu nâng cao thu nhập bình quân của 23.382 lao động thêm 25% vào năm 2027.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản trị và nâng cao nhận thức rủi ro thiên tai. Ban Quản lý VQG cùng chính quyền 5 xã vùng đệm tổ chức định kỳ 30 lớp tập huấn hàng năm về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBA), củng cố đội tuần tra bảo vệ 220 loài chim nước và tích hợp kế hoạch thích ứng biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2025 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và nông nghiệp (Bộ TN&MT, Sở TN&MT tỉnh Nam Định, UBND huyện Giao Thủy): Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh và quy hoạch không gian dải ven bờ.

Thứ hai, Ban Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và khu Ramsar trên toàn quốc: Tài liệu này là cẩm nang hữu ích về ứng dụng phương pháp tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (EbA), kỹ thuật giám sát biến động đa dạng sinh học và quy trình bảo tồn các loài chim di cư có giá trị quốc tế.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Sinh thái học, Quản lý tài nguyên môi trường: Công trình mang lại hệ thống dữ liệu viễn thám GIS, phương pháp điều tra xã hội học PRA chuẩn mực và bộ chỉ số sinh thái phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và đối tác phát triển quốc tế (JICA, MCD, IUCN, UNDP, WB): Nguồn số liệu kinh tế - xã hội chi tiết của 5 xã vùng đệm giúp các tổ chức thiết kế hiệu quả các dự án viện trợ sinh kế, tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho phụ nữ và nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu tác động tiêu cực nhất đến thảm thực vật Vườn Quốc gia Xuân Thủy ở điểm nào? Tác động rõ nét nhất là hiện tượng nước biển dâng và triều cường kèm độ mặn biến động làm rụng cành non, khô ngọn ở các quần xã cây Trang và Sú, giảm độ che phủ tán từ 100% xuống còn 40% đến 50%, đồng thời làm chết nhiều dải rừng Phi lao phòng hộ ven biển tại Cồn Lu.

Tại sao tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (EbA) lại là giải pháp trọng tâm cho khu Ramsar Xuân Thủy? Phương pháp EbA liên kết chặt chẽ hệ sinh thái tự nhiên với phúc lợi xã hội. Giải pháp này giúp bảo tồn 3.100 ha rừng ngập mặn nguyên vẹn, vừa tạo bể hấp thụ các-bon giảm nhẹ khí nhà kính, vừa duy trì nguồn lợi thủy sản tự nhiên làm nền tảng sinh kế bền vững cho 43.307 người dân vùng đệm.

Kịch bản phát thải trung bình (B2) dự báo các chỉ số khí hậu tại Nam Định biến đổi ra sao? Theo kịch bản B2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tại tỉnh Nam Định dự báo tăng khoảng 2,7°C, tổng lượng mưa năm tăng từ 7% đến 8%, và mực nước biển ven bờ dâng cao từ 57 cm đến 73 cm.

Đời sống của 5 xã vùng đệm chịu tổn thương lớn nhất ở những khía cạnh nào? Hơn 78,6% lao động làm nông nghiệp và 16,2% làm thủy sản chịu rủi ro cao do bão lũ, rét đậm và hạn mặn. Khi mùa màng thất bát, người dân nghèo phải mất 8 đến 10 giờ mỗi ngày vào vùng lõi khai thác tài nguyên, gây cạn kiệt nguồn lợi sinh vật.

Loài Cò thìa (Platalea minor) giữ vai trò gì trong đánh giá tác động biến đổi khí hậu tại Vườn? Cò thìa là loài nguy cấp toàn cầu với khoảng 45 cá thể ghi nhận tại Vườn năm 2012. Chúng đóng vai trò là loài chỉ thị sinh học nhạy cảm: sự suy thoái bãi triều ăn và rừng ngập mặn do nước biển dâng sẽ phản ánh trực tiếp qua tần suất suy giảm cá thể Cò thìa di cư.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu khí hậu 20 năm tại Nam Định, khẳng định xu thế tăng nhiệt độ 24°C trung bình năm và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan.
  • Xác định rõ mức độ suy thoái 7.100 ha vùng lõi Ramsar Xuân Thủy do xói lở cửa Ba Lạt và suy giảm 50% độ che phủ tán rừng ngập mặn.
  • Đánh giá sâu sắc tính dễ bị tổn thương sinh kế của 12.975 hộ gia đình tại 5 xã vùng đệm trước nguy cơ thiên tai và xâm nhập mặn.
  • Đề xuất khung giải pháp thích ứng tích hợp dựa trên hai trụ cột: tiếp cận hệ sinh thái (EbA) và tiếp cận cộng đồng (CBA).
  • Khẳng định giá trị thực tiễn trong việc bảo vệ hơn 220 loài chim nước và định hướng phát triển kinh tế biển bền vững cho địa phương.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng và bộ giải pháp đồng bộ giữa công trình và phi công trình. Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thành trồng mới 500 ha rừng ngập mặn và triển khai các dự án sinh kế cộng đồng trước năm 2028. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển hãy khai thác triệt để các phát hiện của luận văn nhằm chung tay bảo tồn bền vững khu di sản Ramsar Xuân Thủy trước thách thức biến đổi khí hậu toàn cầu.