Chương 1: Cơ sở lý luận quy hoạch bảo vệ môi trƣờng. Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trƣờng huyện Phú Lộc. Chương 3: Định hƣớng quy hoạch bảo vệ môi trƣờng tổng thể huyện Phú Lộc đến năm 2020. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Trên thế giới QHBVMT đã là mối quan tâm của quốc tế, vấn đề này đã đƣợc nghiên cứu rất sớm tại các nƣớc có nền khoa học phát triển nhƣ Pháp, Mỹ, Nga…và sau đó là các nƣớc Châu Á nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc… QHBVMT cũng đƣợc các tổ chức tài chính lớn nhƣ Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) quan tâm. Từ những năm 70 của thế kỷ 20 vấn đề môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng và PTBV đã đƣợc quan tâm từ sau khi thế giới phải gánh chịu những hậu quả lớn của một số thảm họa môi trƣờng, vấn đề này đã đƣợc quan tâm của rất nhiều quốc gia, bằng chứng là sự xuất hiện của các Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về môi trƣờng nhƣ: Hội nghị Stockholm (Thụy Điển) 6/1972, Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trƣờng và phát triển Họp tại Rio de Janeiro (Braxin) từ ngày 3-14/6/1992, Hội nghị Thƣợng đỉnh Rio+20. Qua đó có thể thấy rằng vấn đề bảo vệ môi trƣờng và PTBV đã và đang đƣợc quan tâm rất lớn trên phạm vi toàn cầu.
Các quốc gia, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các nhà khoa học đang nỗ lực xây dựng các giải pháp, công cụ hợp lý nhằm khống chế tình trạng ô nhiễm môi trƣờng, biến đổi khí hậu nhằm hiện thực hóa chiến lƣợc PTBV. Thuật ngữ Environmental planning (đƣợc hiểu là: Quy hoạch môi trƣờng, quy hoạch bảo vệ môi trƣờng/hoạch định môi trƣờng) – Trong luận án này đƣợc hiểu theo nghĩa QHBVMT ra đời vào đầu những năm 70 và phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỉ 20. Đây có thể xem nhƣ một ngành khoa học mới và còn nhiều quan điểm khác nhau về tên gọi cũng nhƣ nội dung thực hiện. Hiện nay, trên thế giới vẫn tồn tại nhiều khái niệm về QHBVMT, có thể tổng kết một số khái niệm nổi bật sau: Theo Bách khoa toàn thƣ mở thì: QHBVMT là quá trình hỗ trợ cho việc ra quyết định để thực hiện quá trình phát triển có tính đến môi trường tự nhiên, xã hội, yếu tố chính trị, kinh tế, quản trị và cung cấp một kế hoạch công việc tổng thể để đạt được những kết quả mang tính bền vững [80].
Từ điển Môi trƣờng và PTBV, Alan Gilpin (1996) cho rằng QHBVMT là sự xác định các mục tiêu mong muốn về KT-XH đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó. Những vấn đề trong QHBVMT thành phố và quy hoạch vùng bao gồm: sử dụng đất, giao thông vận tải, lao 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động, sức khỏe, các trung tâm, thị xã mới, dân số, chính sách của Nhà nƣớc về định cƣ, các vấn đề nhà ở, công nghiệp, phát triển đô thị, chính sách môi trƣờng đối với quốc gia, vùng và đô thị, các vấn đề ô nhiễm và đánh giá tác động môi trƣờng. Có thể thấy rằng quan điểm, khái niệm QHBVMT trên thế giới vẫn chƣa có sự thống nhất. Tùy thuộc vào mỗi quốc gia, thời kỳ mà các nghiên cứu về QHBVMT có sự khác nhau.
Qua phân tích có thể rút ra một số điểm tƣơng đồng sau: - QHBVMT là công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định để thực hiện quá trình phát triển của lãnh thổ hƣớng đến mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng theo mục tiêu PTBV cho vùng, lãnh thổ. - QHBVMT nhằm hƣớng đến liên kết các vấn đề môi trƣờng vào trong quy hoạch phát triển KT-XH. Có nhiều khái niệm về quy hoạch, đƣợc sử dụng phổ biền nhƣ sau: Nổi bật nhất là tác giả Peter Hall, Đại học Tổng hợp London, Chủ tịch Hiệp hội Đô thị và Nông thôn Vƣơng quốc Anh, thì “Quy hoạch như một hoạt động chung, bao gồm việc tạo ra một chuỗi hành động có trình tự, dẫn đến việc đạt một hay nhiều mục tiêu đề ra. Các phƣơng tiện thực hiện chính sẽ là các thuyết minh đƣợc hỗ trợ một cách thích hợp bởi các dự báo thống kê, các quan hệ toán học, các đánh giá định lƣợng và các sơ đồ minh họa mối quan hệ giữa các yếu tố khác nhau của bản quy hoạch” (P.
Hiện nay có nhiều quan niệm về quy hoạch nhƣ: quy hoạch cán bộ - (Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài), quy hoạch tuyến tính (toán học), quy hoạch gắn với không gian…, trong luận án chỉ phân tích những khái niệm về quy hoạch liên quan đến “không gian”. Theo Taylor (1998) quy hoạch được hình thành từ cách tiếp cận không gian vật thể sau đó lồng ghép các cách tiếp cận kinh tế, xã hội và môi trường trong việc sử dụng không gian. Các quy hoạch vật thể (physical plan), như: quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị… có tính không gian rất cụ thể. Còn Glasson và Marshall (2007) lại cho rằng, dù quy hoạch có đƣợc sử dụng nhƣ thế nào trong các thời kỳ phát triển khác nhau, nó đều liên quan trực tiếp đến việc phát triển không gian trong tƣơng lai.
Theo đó, quy hoạch là việc bố trí có mục đích hướng đến không gian tương lai của một tập hợp lớn các hoạt động trong/trên một phạm vi đất đai hay nguồn vật chất, nguồn lực có hạn [19]. Godschalk từ Hội các nhà quy hoạch Hoa Kỳ thì quy hoạch là một lộ trình xã hội gồm hai công đoạn phân tích chính sách (trước khi những nhà chính trị ra quyết định) và quản lý sự 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện các chính sách ấy (sau khi đã có quyết định) và nguồn cung ứng thông tin cho các hoạt động ấy được rút ra từ sự đối thoại với xã hội. Từ nhận định đó mà quyển sách do tác giả chủ biên đã bàn tới các vấn đề lớn do sự xác nhận định nghĩa mới về quy hoạch nhƣ một tiến trình xã hội [41]. Tại các nước Âu – Mỹ Trên phạm vi toàn cầu, chính phủ các nƣớc và các tổ chức quốc tế đều có chung một mục tiêu theo đuổi là PTBV, thế nhƣng trên thực tế, phát triển kinh tế ở các cấp độ khác nhau của nhiều khu vực và nhiều quốc gia vẫn tiếp tục làm suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trƣờng.
Những suy nghĩ hiện tại về PTBV đã thống nhất quan điểm rằng, các nhà lập quy hoạch và ra quyết định nhất thiết phải lồng ghép các nhân tố xã hội, kinh tế, tài nguyên và môi trường ở mọi cấp độ lập quy hoạch (Ủy ban Thế giới về MT&PT - WCED, 1992). Việc lồng ghép công tác quy hoạch kinh tế và môi trƣờng có lịch sử khá lâu dài. Lý thuyết về QHBVMT đã đƣợc phát triển liên tục từ nhà xã hội học ngƣời Pháp Le Play (1887), đến nhà quy hoạch ngƣời Scotlen – Sir Patrick Geddes và sau đó là ngƣời học trò của ông – Lewis Murnford ngƣời Mỹ và sau này là Ian McHarg, tác giả của cuốn sách Thiết kế tự nhiên – Design with nature đƣợc xuất bản năm 1969. Vấn đề môi trƣờng bắt đầu đƣợc quan tâm từ những năm 60 ở Mỹ, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách nghiêm túc tới các vấn đề môi trƣờng trong quá trình xây dựng chiến lƣợc phát triển.
Cuốn sách cũng đã có một tác động nhiều lĩnh vực và ý tƣởng nhƣ môi trƣờng, đánh giá tác động, phát triển cộng đồng mới, quản lý vùng ven biển, phục hồi đất, thiết kế vƣờn thú, quy hoạch hành lang sông và ý tƣởng về tính bền vững. Anh Edington đã xuất bản cuốn sách “Sinh thái học và quy hoạch bảo vệ môi trường” phân tích rõ những vấn đề sinh thái trong QHBVMT và sử dụng đất nông thôn, phát triển đô thị, công nghiệp. Ngoài ra tác giả cũng đã chỉ ra rằng QHBVMT theo nghĩa rộng nhất của nó là một nỗ lực để cân bằng và hài hòa những lợi ích riêng của con người và những kế hoạch đã đặt lên môi trường tự nhiên. Mặc dù các kế hoạch này thƣờng đƣợc thiết kế để bổ sung cho nhau, khả năng xung đột và mất cân đối có thể xảy ra ở nhiều cấp độ.
Trên quy mô toàn cầu, một số nhà quan sát lo ngại rằng hiện cam kết để tăng trƣởng công nghiệp sẽ dẫn đến gia tăng thiệt hại về môi trƣờng và cạn kiệt tài nguyên, và kết quả cuối cùng trong sự sụp đổ của xã hội. Westman (1985) cũng nhấn mạnh về ảnh hƣởng sinh thái và mối 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ khăng khít giữa sinh thái với đánh giá tác động môi trƣờng trong cuốn Sinh thái, Đánh giá tác động môi trƣờng và QHBVMT [69]. Ở Anh đáng chú ý có công trình ''QHBVMT cho phát triển vùng'' của Anne R. Beer (1990) trong đó đã trình bày mối quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng.
Tác giả đã khẳng định QHBVMT là cơ sở cho tất cả các quyết định phục vụ phát triển bền vũng cho vùng đó, nó là một quá trình quan trọng hỗ trợ cho việc đưa ra các quyết định liên quan đến vùng đó. Công trình này trình bày một cách rõ ràng và từng bƣớc giới thiệu quá trình thực hiện quy hoạch để một lãnh thổ phát triển một cách bền vững với môi trƣờng. Ngoài ra, trong đó cũng thể hiện những thông tin thu thập về tự nhiên và xã hội, môi trƣờng phục vụ cho mục đích đề xuất QHBVMT cho lãnh thổ một cách tốt nhất. Công trình này đƣợc xây dựng với 5 phần chính là: 1) tác giả đi sâu giải thích các khái niềm về thế nào là quy hoạch và mối quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng; 2) thu thập, thống kê thông tin của vùng bao gồm các thông tin về môi trƣờng tự nhiên, KT-XH, hiện trạng sử dụng đất, công tác quản lý, cảnh quan.
3) Xác định không gian cho con người và thiết lập môi trường và chất lượng cuộc sống; 4) quy hoạch vùng 5) quy hoạch đô thị bền vững [66].