Đồ án kỹ thuật xử lý nước cấp - Giáp Xuân An - ĐH TN&MT Hà Nội

Đồ án kỹ thuật xử lý nước cấp từ nguồn nước ngầm, thiết kế hệ thống lọc nước đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT cho khu vực Tân An với công suất tối ưu.

Chuyên ngành

Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2025

62
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu tổng quan về đồ án xử lý nước cấp Giáp Xuân An

Đồ án xử lý nước cấp Giáp Xuân An là một nghiên cứu học thuật thuộc lĩnh vực kỹ thuật môi trường, được thực hiện bởi sinh viên Giáp Xuân An – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Mục tiêu chính của đề tài là thiết kế hệ thống xử lý nước cấp phù hợp cho khu dân cư đô thị loại III trong giai đoạn phát triển từ năm 2025 đến 2035. Nguồn nước đầu vào được xác định là nước ngầm, với các chỉ tiêu vượt ngưỡng quy định theo QCVN 01:2009/BYT, đặc biệt là hàm lượng sắt tổng số (10 mg/L), độ đục (5 NTU) và coliform tổng số (5×10⁴ vi khuẩn/100mL). Đề tài áp dụng các phương pháp xử lý truyền thống kết hợp hiện đại như keo tụ tạo bông, lắng ngang, lọc nhanhkhử trùng bằng clo, nhằm đảm bảo nước đầu ra đạt tiêu chuẩn cấp cho sinh hoạt. Việc lựa chọn công nghệ dựa trên phân tích chi tiết thành phần nước thô, lưu lượng tính toán (~686 m³/ngày) và yêu cầu kỹ thuật theo TCXD 33:2006. Đây là minh chứng rõ ràng cho ứng dụng học thuật vào giải quyết vấn đề thực tiễn về an ninh nước sạch tại địa phương.

1.1. Thông tin tác giả và bối cảnh học thuật của đồ án

Đồ án được thực hiện bởi sinh viên Giáp Xuân An (MSSV: 22111070268), lớp ĐH12M1, Khoa Môi trường – Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của Th.S Đoàn Thị Oanh. Đây là đồ án môn học Kỹ thuật xử lý nước cấp, mang tính chất học thuật nhưng có giá trị ứng dụng cao trong bối cảnh ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính là xây dựng quy trình xử lý nước cấp đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho khu dân cư với dân số dự báo ~2.222 người vào năm 2035. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào tính toán thiết kế trạm cấp nước, lựa chọn công nghệ phù hợp và đánh giá hiệu quả xử lý dựa trên tiêu chuẩn nước sinh hoạt QCVN 01:2009/BYT.

II. Những thách thức nổi bật trong xử lý nước cấp tại địa phương

Nguồn nước ngầm được sử dụng trong đồ án tuy có ưu điểm như nhiệt độ ổn định và ít vi sinh vật gây bệnh, nhưng lại chứa nhiều tạp chất vượt ngưỡng cho phép. Cụ thể, hàm lượng sắt tổng số lên tới 10 mg/L – gấp hơn 33 lần giới hạn QCVN (0,3 mg/L). Ngoài ra, coliform tổng số đạt 5×10⁴ vi khuẩn/100mL, trong khi tiêu chuẩn yêu cầu phải bằng 0. Độ đục 5 NTU cũng vượt mức cho phép (2 NTU). Những vấn đề này đặt ra thách thức lớn cho thiết kế hệ thống cấp nước, đòi hỏi quy trình xử lý phải đồng thời giải quyết cả kim loại nặng, vi sinh vật và chất rắn lơ lửng. Đặc biệt, việc oxy hóa sắt và mangan đòi hỏi làm thoáng hiệu quả, trong khi khử trùng triệt để cần liều lượng clo hợp lý. Nếu không xử lý triệt để, nước đầu ra có thể gây hại cho sức khỏe cộng đồng và làm hỏng đường ống cấp nước do hiện tượng đóng cặn.

2.1. Phân tích chất lượng nước đầu vào theo QCVN 01 2009 BYT

Bảng so sánh cho thấy 4 thông số chính vượt ngưỡng: sắt (Fe), mangan (Mn), độ đụccoliform. Trong đó, sắt là vấn đề nghiêm trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến màu sắc, mùi vị và khả năng ăn mòn thiết bị. Điều này yêu cầu bắt buộc phải có công đoạn làm thoángkeo tụ tạo bông.

2.2. Rủi ro khi không xử lý đúng quy trình

Nếu bỏ qua công đoạn lắng nước hoặc lọc nhanh, cặn sắt sẽ tồn lưu trong nước, gây tắc nghẽn đường ống. Thiếu khử trùng nước sẽ dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh do vi sinh vật. Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất keo tụ không đúng liều lượng (ví dụ PAC) có thể làm tăng độ kiềm hoặc để lại dư lượng nhôm trong nước.

III. Phương pháp xử lý nước cấp hiệu quả theo đồ án Giáp Xuân An

Đồ án đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý gồm 5 bước chính: làm thoáng → keo tụ tạo bông → lắng ngang → lọc nhanh → khử trùng. Giai đoạn làm thoáng sử dụng giàn mưa để oxy hóa Fe²⁺ thành Fe³⁺, tạo kết tủa hydroxide sắt dễ loại bỏ. Tiếp theo, PAC (polyaluminium chloride) được châm vào để keo tụ tạo bông, giúp liên kết các hạt keo nhỏ thành bông cặn lớn. Bể lắng ngang loại bỏ ~80% cặn nhờ nguyên lý trọng lực, trong khi bể lọc nhanh với lớp cát thạch anh dày 1,3m loại bỏ cặn mịn và một phần vi sinh vật. Cuối cùng, clo được châm với liều lượng 1 mg/L để khử trùng nước, đảm bảo tiêu diệt hoàn toàn coliform. Quy trình này tuân thủ chặt chẽ TCXD 33:2006 và đã được tính toán kỹ lưỡng về lưu lượng, diện tích công trình và tổn thất áp lực.

3.1. Vai trò then chốt của keo tụ tạo bông và PAC

Ứng dụng PAC trong xử lý nước giúp giảm liều lượng hóa chất, tăng hiệu quả keo tụ và giảm độ pH sau xử lý so với phèn nhôm truyền thống. Trong đồ án, PAC được lựa chọn do khả năng tạo bông nhanh, ổn định và phù hợp với điều kiện nước ngầm có độ kiềm thấp.

3.2. Thiết kế bể lắng ngang và bể lọc nhanh tối ưu

Bể lắng ngang được thiết kế với thời gian lưu 30 phút, chiều cao vùng lắng 3m, đảm bảo hiệu suất lắng >90%. Bể lọc nhanh sử dụng vật liệu cát thạch anh (d=0,75–0,8mm), tốc độ lọc 6 m/h, kết hợp rửa lọc bằng nước và khí để tái sinh lớp lọc hiệu quả.

IV. Bí quyết thiết kế hệ thống cấp nước đạt tiêu chuẩn QCVN

Việc tính toán thiết kế trạm cấp nước trong đồ án dựa trên phương pháp Euler cải tiến để dự báo dân số, từ đó xác định lưu lượng tối đa ngày là 686 m³/ngày. Các công trình được bố trí theo trình tự khép kín: bể thu nước → giàn mưa → bể phản ứng → bể lắng ngang → bể lọc nhanh → bể chứa nước sạch. Mỗi công đoạn đều được tính toán chi tiết về kích thước, vật liệu và thông số vận hành. Ví dụ, giàn mưa có diện tích 5,75 m² với 305 lỗ phun đường kính 7 mm, đảm bảo tiếp xúc tối đa giữa nước và không khí. Bể chứa nước sạch có dung tích 460 m³, đủ cung cấp trong 16 giờ. Toàn bộ hệ thống đảm bảo nước đầu ra đạt mọi chỉ tiêu của tiêu chuẩn nước sinh hoạt QCVN 01:2009/BYT, đặc biệt là sắt <0,3 mg/L, coliform = 0 và độ đục <2 NTU.

4.1. Tính toán lưu lượng và quy mô trạm xử lý

Dân số năm 2035 được tính là 2.222 người, với tiêu chuẩn cấp nước 100 L/người/ngày. Lưu lượng trung bình ngày là 222,2 m³, nhưng lưu lượng ngày max (k=1,1) đạt 686 m³/ngày – cơ sở để thiết kế công suất trạm.

4.2. Tiêu chuẩn kỹ thuật các công trình chính

Các thông số như chiều cao bể lắng ngang (5m), diện tích bể lọc nhanh (5,25 m²), hay đường kính ống thu nước (114 mm) đều tuân thủ TCXD 33:2006, đảm bảo hiệu quả kỹ thuật và khả năng mở rộng trong tương lai.

V. Kết quả và ứng dụng thực tiễn của mô hình xử lý nước cấp

Mô hình xử lý nước cấp được đề xuất không chỉ đáp ứng yêu cầu học thuật mà còn có tiềm năng ứng dụng thực tế cao tại các khu dân cư nông thôn hoặc đô thị loại III. Với chi phí đầu tư hợp lý và vận hành đơn giản, hệ thống có thể cung cấp nước sạch ổn định cho ~2.200 người. Hiệu quả xử lý được kiểm chứng qua các chỉ tiêu đầu ra: sắt giảm từ 10 mg/L xuống <0,3 mg/L; coliform từ 5×10⁴ xuống 0; độ đục từ 5 NTU xuống <1 NTU. Điều này khẳng định tính khả thi của trạm xử lý nước tập trung quy mô nhỏ. Ngoài ra, việc sử dụng PAC thay phèn nhôm giúp giảm bùn thải và thân thiện hơn với môi trường. Mô hình này có thể nhân rộng cho các địa phương có nguồn nước ngầm nhiễm sắt tương tự.

5.1. Hiệu quả xử lý các chỉ tiêu ô nhiễm chính

Sau xử lý, nước mặt (thực chất là nước ngầm trong đề bài) đạt đầy đủ tiêu chuẩn nước sinh hoạt QCVN 01:2009/BYT. Đặc biệt, quá trình lắng nướclọc nhanh loại bỏ hiệu quả cặn sắt, trong khi khử trùng nước bằng clo đảm bảo an toàn vi sinh.

5.2. Khả năng nhân rộng mô hình tại địa phương khác

Do sử dụng công nghệ đơn giản, vật liệu sẵn có và không đòi hỏi thiết bị phức tạp, mô hình xử lý nước cấp này có thể áp dụng tại nhiều tỉnh thành có nguồn nước ngầm nhiễm sắt, mangan – đặc biệt ở khu vực đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ.

VI. Hướng phát triển tương lai cho công nghệ xử lý nước cấp

Mặc dù đồ án đạt kết quả tốt, vẫn còn dư địa để nâng cấp. Trong tương lai, có thể thay thế khử trùng bằng clo bằng ozon hoặc tia UV để tránh tạo sản phẩm phụ độc hại. Ngoài ra, việc tích hợp cảm biến IoT để giám sát tự động các thông số như pH, độ đục, hàm lượng sắt sẽ giúp vận hành chính xác và tiết kiệm hóa chất. Về lâu dài, hệ thống lọc nước có thể bổ sung công đoạn trao đổi ion để làm mềm nước nếu độ cứng tăng cao. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng vật liệu lọc sinh học hoặc than hoạt tính có thể nâng cao hiệu quả khử mùi, màu và chất hữu cơ vi lượng. Những cải tiến này sẽ đưa trạm xử lý nước tập trung trở nên thông minh, bền vững và phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước.

6.1. Cải tiến công nghệ khử trùng và giám sát tự động

Thay clo bằng ozon giúp khử trùng mạnh hơn, không để lại mùi vị khó chịu. Kết hợp cảm biến đo độ đục, coliformsắt theo thời gian thực sẽ tối ưu hóa liều lượng hóa chất và cảnh báo sớm sự cố.

6.2. Đề xuất mở rộng ứng dụng vật liệu lọc tiên tiến

Sử dụng than hoạt tính trong bể lọc nhanh hoặc bổ sung tầng lọc sinh học có thể xử lý hiệu quả các hợp chất hữu cơ khó phân hủy, nâng cao chất lượng nước beyond QCVN, hướng tới tiêu chuẩn quốc tế.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I : TỔNG QUAN VỀ NƯỚC NGẦM VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGẦM 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NƯỚC NGẦM 1. Khái niệm nước ngầm Nước ngầm là nước tồn tại và vận động trong các lỗ rỗng, khe nứt hoặc hang hốc của tầng đất, đá dưới bể mặt đất. Nguồn nước này hình thành chủ yếu do nước mưa, nước sông hồ thấm xuống đất và được giữ lại trong các tầng chứa nước 1.

Đặc điểm của nước ngầm Vị trí tồn tại: Nằm dưới mặt đất, thường ở các tầng đất đá có độ rỗng và khả năng thấm nước tốt. Chất lượng: Thường có độ trong cao, ít vi sinh vật gây bệnh do được lọc qua các lớp đất đá; tuy nhiên có thể chứa các khoáng chất (Ca²⁺, Mg²⁺, Fe²⁺, Mn²⁺…) hoặc khí hòa tan (CO₂, H₂S) tùy điều kiện địa chất. Tính ổn định: Nhiệt độ và lưu lượng biến động ít hơn so với nước mặt, đặc biệt ở các tầng sâu. Nguồn bổ cập: Chủ yếu từ nước mưa, một phần từ nước mặt thấm xuống.

Khai thác: Thường qua giếng đào, giếng khoan hoặc hệ thống bơm. Nguy cơ ô nhiễm: Có thể bị nhiễm bẩn do hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, rác thải sinh hoạt hoặc sự xâm nhập của nước mặn ở vùng ven biển. Nguồn nước ngầm. THÀNH PHẦN VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGẦM + Thành phần hóa học của nước mặt thuộc vào bản chất của đất mà nước chảy qua đến các nơi chứa.

Trong hành trình nước hòa tan các phần tử khác nhau. Bằng cách trao đổi trên bề mặt nước-không khí, các loại nước này tự chứa các khí hòa tan (oxy,nito,khí cacbonic) Trước khi quyết định công nghệ xử lý nước mặt chúng ta cần lưu ý một số điểm sau của nước mặt: + Trong nước mặt thường xuyên tồn tại các khí hòa tan +Nước mặt có nồng độ lớn các chất lơ lửng đặc biệt là trong dòng chảy. Chất huyền phù rất khác nhau, bắt đầu từ các hạt keo đến các nguyên tố hưu hình được được trôi theo các dòng sông khi lưu lượng tăng đáng kể. Vì vậy khi thiết kế thiết bị xử lý nước mặt không thể thiếu được công đoạn keo tụ, tạo bông ở các đập nước thời gian dừng lâu tạo nên sự lắng gạn tự nhiên của các phần tử có kích thước lớn, độ đục còn lại của nước là do các chất keo.

+Trong nước mặt có mặt các chất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên là do sự phân hủy các chất hưu cơ thực vật và động vật sống trên bề mặt bể chứa nước hoặc trong các sông và các vi sinh vật tự phân hủy sau khi chết ( thực vật và động vật ) +Tồn tại các sinh vật nổi trong nước mặt: Nước mặt là nơi cư trú và phát triển quan trọng của thực vật nổi (tảo) và động vật nổi. Trong điều kiện nhất định cuộc sống dưới nước có thể phát triển mạnh: Bao gồm sự phát triển của thực vật, động vật, cá +Sự thay đổi hàng ngày (sự chênh lệch nhiệt độ, ánh sáng mặt trời ) thay đổi theo mùa, sự thay đổi theo mùa, sự thay đổi khí hậu (nhiệt độ,…) và của thực vật (rụng lá ). Chúng có thể xảy ra ngẫu nhiên như mưa, giông, ô nhiễm lạnh. Ở các nơi chứa nước mặt, chất lượng nước thay đổi từ bề mặt đến đáy bể chứa (O2, Fe, Mn, khả năng oxy hóa, sinh vật nổi).

Hàm lượng của mỗi yếu tố thay đổi phụ thuộc vào chu kỳ của một năm. +Ô nhiễm hưu cơ thường dẫn đến việc phú dưỡng nguồn nước + Nguồn ô nhiễm đến từ nguồn nước thải đô thị: các chất cặn bã có trong nước thải đô thị (quá trình trao đổi chất của con người, tiện nghi nhà ở) + Nguồn ô nhiễm đến từ nguồn nước công ngiệp : chất ô nhiễm hữu cơ và vi ô nhiễm hoặc vô cơ +Ô nhiễm từ nguồn công nghiệp: phân bó, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ trôi theo nước mưa và các dòng nước. Chất thải hữu cơ cũng tạo ra trong các trại chăn nuôi. +Tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới.

Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng Vấn đề ô nhiễm và cạn kiệt và nhu cầu dùng nước tăng lên mạnh mẽ: Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%).  Nhiệt độ : Là yếu tố liên quan đến sự tồn tài và phát triển của các sinh vật thủy sinh, đồng thời là nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy sinh học các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước, ảnh hưởng đến nồng độ oxy hòa tan.

Qua đó ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nguồn nước tự nhiên nên những thay đổi của nhiệt độ ảnh hưởng nhiều mặt đến chất lượng nước. Nhiệt độ là yếu tố quyết định loài sinh vật nào chiếm ưu thế trong môi trường nước (ở việt nam nhiệt độ nước dao động từ 13 -34oC “theo trịnh xuân lai”). Theo độ sâu, nhiệt độ phân thành 3 tầng rõ rệt: Tầng mặt, tầng chuyển tiếp và tầng đáy. Trong tầng mặt: nước có nhiệt độ cao nên tỷ khối thấp.

Do ảnh hưởng của gió nên nước trong tầng mặt xáo trộn mạnh làm cho nhiệt độ tương đối đồng đều, nồng độ ôxy hòa tan cao, tiếp nhận ánh sáng tốt nên quang hợp diễn ra mạnh mẽ. Tầng này rất thuận lợi cho quá trình phân hủy sinh học. +Tầng chuyển tiếp: có nhiệt độ giảm rõ rệt theo độ sâu Tầng đáy, nước không bị khuấy đảo và tách biệt với tầng mặt bởi tầng chuyển tiếp nên nồng độ oxy hòa tan thấp, ánh sáng mặt trời không xuyên tới. Trong tầng này, quá trình phân hủy hữu cơ diễn ra trong điều kiện yếm khí, sản phẩm phân hủy có mùi và độ chại H2S, NH3 -Màu sắc Màu của nước là do các chất tạo ra trong quá trình phân hủy các mảnh vụn hữu cơ như lá cây, gỗ.

hoặc các hợp chất vô cơ chứa Fe(III) khi có trong mẫu nước. Những thành phần gây màu tự nhiên trong nước dưới dạng những hạt keo mang điện tích âm, nên có thể loại bỏ bằng quá trình đông tụ bởi muối của các ion kim loại hóa trị III như của Fe, Al. Màu của nước do các chất lơ lửng tạo nên loại bỏ bằng phương pháp lọc. Màu của nước do các chất hòa tan tạo nên loại bỏ bằng phương pháp hóa lý kết hợp.

Nước bị nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt và công nghiệp thường có màu xanh đậm hoặc màu đen. Độ màu đo bằng đơn vị PtCo( Platin - coban). Nước tự nhiên có độ màu nhỏ hơn 200 PtCo Dựa vào màu nước để quyết định mức độ xử lý và lựa chon phương pháp xử lý, hóa chất dùng trong xử lý (theo Trịnh Xuân Lai thì nước thiên nhiên thường có độ màu thấp hơn 200 độ(ptCo))  Độ đục Độ đục của nước là do trong nước có nhiều loại chất lơ lửng dạng keo hoặc dạng phân tán thô bị cuốn trôi từ bề mặt lưu vực xuống thủy vực. Độ đục xác định thông qua khả năng lan truyền của ánh sáng qua nước.

Nó phản ánh mức độ ngăn trở ánh sáng xuyên qua nước của các chất lơ lửng vô cơ và hữu cơ. Thông qua độ đục có thể đánh giá tình trạng nhiễm bẩn của nước. Đơn vị đo độ đục là NTU, Nước mặt có độ đục 20-100 NTU. Mùa lũ tới 500 NTU.

Nước cấp cho ăn uống nhỏ hơn 5 NTU  Mùi vị Nước ô nhiễm có mùi do các hợp chất hóa học chủ yếu các hợp chất hữu cơ hay các sản phẩm từ phân hủy vật chất. Nước bị ô nhiễm nặng do các chất hữu cơ có mùi hôi thối rất khó chịu do các khí độc hại như SO2, H2S sản phẩm từ phân hủy yếm khí.  Độ dẫn điện Độ dẫn điện tăng theo hàm lượng các chất khoáng hòa tan trong nước và dao động theo nhiệt độ. Dùng để đánh giá tổng lượng các chất khoáng hòa tan trong nước, nước tinh khiết ở 20oC là 4,2 µs/m  Tính phóng xạ Tính phóng xạ do sự phân hủy các thành phần có chất phóng xạ trong nước tạo nên.

Xác định thông qua tổng hoạt độ phóng xạ alpha và beta.  Tổng số chất rắn Tống số chất rắn là toàn bộ các chất có mặt trong nước, xác định bằng cách sấy mẫu nước ở nhiệt độ 103 – 105 độ, sau khi nước bay hơi hết, phần còn lại là chất rắn. Các chất rắn có mặt trong nước gồm chất rắn hòa tan và lơ lửng, trong đó quan trọng nhất là chất rắn lơ lửng  Chất rắn lơ lửng Lượng chất rắn lơ lửng là thông số đánh giá cường độ nước thải, hiệu quả của thiết bị xử lý. Xác định dùng phương pháp lọc mẫu nước bằng chén Gút, sau đó đo khối lượng chất rắn có trong màng lọc của chén (mg/l) 1.

SO SÁNH NƯỚC MẶT VÀ NƯỚC NGẦM Bảng 1. Sự khác nhau giữa nước ngầm và nước mặt Thông số Nước bề mặt Nước ngầm Nhiệt độ Thay đổi theo mùa Tượng đối ổn định Thường cao và thay đổi Chất rắn lớ lửng Rất thấp, hầu như không có theo mùa Thay đổi tùy thuộc chất Ít thay đổi, cao hơn so với Chất khoáng hòa tan lượng đất, lượng mưa. Rất thấp, chỉ có khi nước ở Thường xuyên có trong Hàm lượng Fe2+, Mn2 sát dưới đáy hồ. nước Khí CO2 hòa tan Rất thấp hoặc bằng 0 Có nồng độ cao Khí O2 hòa tan Gần như bão hòa Thường không tồn tại Có khi nguồn nước bị Khí NH3 Thường có nhiễm bẩn Khí H2S Không có Thường có SiO2 Có ở nồng độ trung bình Thường có ở nồng độ cao Có ở nồng độ cao, do bị NO3 Thường rất thấp nhiễm bởi phân bón hóa học Nhiều loại vi trùng, virut Chủ yếu là do các vi trùng Vi sinh vật gây bệnh và tảo.

do sắt gây ra. Chương II : PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC NGẦM 2. BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC NGẦM 2. Phương pháp cơ học 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ