Chương 1: Tổng quan về hạn hán. Chương này giới thiệu một cách tổng quát về hạn hán, nguyên nhân, các đặc trưng hạn hán và kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới và Việt Nam. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu. Chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu của luận văn, nguồn số liệu sử dụng trong luận văn.
Chương 3: Kết quả và thảo luận. Chương này nêu ra những kết quả của luận văn đạt được. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các khái niệm và đặc trƣng của hạn hán 1.
Các khái niệm hạn hán Theo WMO (2005), hạn hán là một phần tự nhiên của khí hậu mặc dù nó vẫn bị nhầm lẫn là sự kiện hiếm và ngẫu nhiên. Hạn hán khác khô hạn, khô hạn giới hạn trong các vùng có lượng mưa thấp, và là một đặc trưng thường xuyên của khí hậu nơi đó. Còn hạn hán được coi là có liên quan đến các điều kiện trung bình thời kỳ dài của sự cân bằng giữa lượng mưa và bốc thoát hơi (bốc hơi + thoát hơi) trong một khu vực cụ thể. Hạn hán cũng liên quan đến thời gian (chính vụ, sự trì hoãn sự bắt đầu mùa mưa, sự xuất hiện của các đợt mưa có liên quan đến các giai đoạn sinh trưởng của vụ mùa) và tính hiệu quả của mùa mưa (cường độ mưa, số đợt mưa).
Tuy nhiên, đây chỉ là các khái niệm mà chưa đề cập đến các định nghĩa hoạt động của hạn hán. Do đó, có hai định nghĩa chính về hạn hán: khái niệm và hoạt động hạn hán. Các định nghĩa về hạn hán: Các định nghĩa hạn, được đưa ra trong công thức, giúp mọi người hiểu được khái niệm về hạn hán. Vậy hạn hán là một khoảng thời gian thiếu hụt lượng mưa gây ra những thiệt hại lớn đến mùa màng, dẫn đến giảm sản lượng cây trồng.
Định nghĩa này khá quan trọng trong việc thiết lập các chính sách về hạn. Mỗi loại định nghĩa hạn sẽ giúp cho con người xác định được sự bắt đầu, kết thúc và mức độ khắc nghiệt của một đợt hạn. Định nghĩa này thường được sử dụng để xác định các trạng thái hạn hiện tại với trạng thái trung bình thời kỳ dài, thường là 30 năm. Các loại hạn hán được đề cập ở bên dưới.2 Phân loại hạn Hiện nay có nhiều cách phân loại nhưng theo WMO (2005), hạn hán được chia thành bốn loại như sau: Hạn khí tượng: hạn khí tượng thường được dựa trên mức độ khô hạn và thời gian kéo dài của một thời kỳ khô hạn.
Hạn khí tượng thường được coi như là biểu hiện về sự chênh lệch (thiếu hụt) lượng giáng thủy trong suốt một khoảng thời gian nào đó. Hạn nông nghiệp: hạn nông nghiệp thường kết nối với đợt hạn khí tượng (hạn thủy văn) với các tác động đến nông nghiệp, thường đề cập đến sự thiếu hụt lượng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mưa, sự khác nhau giữa bốc thoát hơi thực tế và bốc thoát hơi tiềm năng, sự thiếu hụt lượng nước trong đất, sự giảm mực nước ngầm, hồ chứa nước. Hạn thủy văn: liên quan đến sự thiếu hụt nguồn nước mặt và các nguồn nước mặt phụ (dòng chảy, bể chứa, mực sông hồ, nước ngầm). Tần suất và mức độ hạn thủy văn thường được định nghĩa dựa trên một quy mô lưu vực sông.
Hạn thủy văn liên quan đến sử dụng đất. Mặc dù khí hậu là nhân tố chính ảnh hưởng đến hạn thủy văn, các nhân tố khác như những thay đổi trong việc sử dụng đất (phá rừng), suy thoái đất, và việc xây dựng các đập nước, tất cả đều ảnh hưởng đến các đặc tính thủy văn của lưu vực. Hạn kinh tế xã hội: hạn này xảy ra khi sự thiếu hụt lượng nước bắt đầu ảnh hưởng đến con người, cá nhân, tập thể. Hầu hết các định nghĩa hạn kinh tế xã hội liên quan đến việc cung cấp nước và nhu cầu sử dụng dụng nước.
Các định nghĩa này cũng có thể được sử dụng để phân tích tần suất, mức độ, và thời gian kéo dài của một thời kỳ hạn trong lịch sử. * Tác động của hạn hán. Tất cả các định nghĩa hạn đều liên quan đến các tác động của một đợt khô hạn tới các hoạt động của con người. Các tác động của hạn có thể là môi trường, kinh tế và xã hội.
+ Các tác động môi trường là kết quả của những thiệt hại cho các loài thực vật và động vật, môi trường sống động vật hoang dã, không khí và chất lượng nước; rừng và cháy rừng, sự xuống cấp của chất lượng cảnh quan; mất đa dạng sinh học, và xói mòn đất. Một số tác động đến môi trường trong một thời kỳ ngắn có thể nhanh chóng được thiết lập lại. Tác động môi trường kéo dài trong một thời gian hoặc thậm chí có thể trở thành vĩnh viễn. Ví dụ, sự xuống cấp của chất lượng cảnh quan, bao gồm sự gia tăng xói mòn đất, có thể dẫn đến một sự mất mát vĩnh viễn của năng suất sinh học của khu vực.
+ Tác động kinh tế xảy ra trong lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan, bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản, mà phụ thuộc vào bề mặt và nước ngầm cung cấp. Ngoài thiệt hại rõ ràng về sản lượng trong cả vụ mùa và sản lượng chăn nuôi gia súc, hạn hán còn liên quan với sự gia tăng nhiễm trùng, sâu bệnh cây trồng. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Các tác động xã hội có mặt trong các thời kỳ hạn hán kéo dài và khắc nghiệt. Trong những trường hợp này, một số nguồn nước khẩn cấp sẽ được yêu cầu đưa ra để để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Các đặc trƣng của hạn hán Hạn hạn thường được xem xét dưới ba đặc trưng: cường độ, thời gian và sự trải rộng theo không gian hạn hán (Wilhite, 2000). - Cường độ hạn hán chính là mức độ thiếu hụt lượng mưa hay mức độ ảnh hưởng hạn hán kết hợp với sự thiếu hụt đó. Cường độ hạn hán thường được xác định bởi sự chệch khỏi mức độ trung bình của các chỉ số khí hậu và liên quan mật thiết với thời gian xác định ảnh hưởng của hạn. - Thời gian hạn hán chỉ khoảng thời gian một đợt hạn hán kéo dài.
- Sự trải rộng theo không gian hạn hay chính là phạm vi hạn hán: hạn có thể xảy ra với diện tích hàng trăm km2 đến hàng triệu km2, đặc biệt là các đợt hạn nghiêm trọng có thể kéo dài mùa này sang mùa khác và ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn (WMO, 1975). Vấn đề hạn hán ở Việt Nam và nguyên nhân Nguyên nhân gây ra hạn hán Hạn hán xuất hiện khi thời tiết bất thường như nhất thời thiếu hụt lượng mưa hoặc lượng mưa nhận được thường xuyên ít ỏi. Hạn hán được cho là do những nguyên nhân sau (Nguyễn Đức Ngữ 2002): - Hạn hán xảy ra do mưa quá ít, lượng mưa nhận được không đáng kể trong một thời gian dài, có thể hầu như quanh năm, đây là tình trạng khá phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn. - Hạn hán do lượng mưa trên khu vực trong một thời gian dài thấp hơn rõ rệt so với mức nhiều năm cùng kỳ.
Tình trạng này có thể xảy ra cả ở nhiều vùng mưa. - Lượng mưa tuy không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc lượng mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh. Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô. Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định nghĩa về hạn hán.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hiện tượng El Nino cũng tác động rõ rệt đến tình trạng hạn hán. Những năm có xảy ra hiện tượng El Nino, lượng mưa giảm, nhiệt độ bức xạ mặt trời tăng lên, bốc hơi tăng mạnh nên dễ gây hạn hán (như Bangladet). Ở Việt Nam, năm 1998 xảy ra hiện tượng El Nino dẫn tới hạn hán nghiêm trọng ở Tây Nguyên. Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khác từ hoạt động của con người cũng có thể gây ra tình trạng hạn hán.
Đầu tiên phải kể đến là do tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước; việc lựa chọn cây trồng không phù hợp, ví dụ như vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí xây dựng công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng. Tiếp đó, thiếu nước trong mùa khô (mùa kiệt) là do không đủ nguồn nước và thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng do sự phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy hoạch hợp lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp. Nguyên nhân gây ra hạn hán tại Nam Trung Bộ - Địa hình đặc thù của Nam Trung Bộ là một trong những nguyên nhân gây ra hạn hán tại khu vực. Tại Nam Trung Bộ có nhiều dãy núi cao từ 1200m đến 2000m bao bọc xung quanh, tạo nên một vòng cung chắn gió từ phía Bắc qua Tây và Tây Nam.
Trong khi đó vào mùa gió Đông Bắc (thường xảy ra từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau) khi hoạt động lệch đông và lấn sâu xuống khu vực Nam Trung Bộ mang lại lượng mưa nhất định trong năm, bị các dãy núi cao ở phía Bắc chắn lại đã làm giảm đáng kể lượng mưa trong mùa mưa. Vào mùa gió mùa Tây Nam (xảy ra vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 8), thường mang đến lượng mưa đáng kể cho khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ, song đối với khu vực Nam Trung Bộ do có các dãy núi cao phía Nam chắn lại nên gió mùa Tây Nam không mang mưa cho khu vực này nên tại đây là mùa khô. Lượng mưa của khu vực nhận được vào các tháng 9, 10, 11, 12 chủ yếu do hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới và dải hội tụ nhiệt đới, tuy nhiên lượng mưa nhận được từ sự ảnh hưởng của hiện tượng này cũng là thất thường. Lượng mưa trung bình năm khu vực đồng bằng xấp xỉ 720mm, trong khi đó lượng bốc hơi tiềm năng là 1.860mm, gấp gần 2,6 lần lượng mưa năm, riêng khu vực miền núi có lượng mưa trung bình năm khoảng 1.