CHƯƠNG 1: TONG QUAN CÁC VAN ĐÈ NGHIÊN COU 1. Chất lượng nước ở một số hệ thống thủy lợi rên thé giới Nước là nguồn thi nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, việc sử dung và bảo vệ tài nguyên nước có ý nghĩa hết sức quan trong, không những bảo vệ môi trường sinh thi, smi còn bảo vệ sức kho cộng đồng, ỗ trợ sản xuất và giảm chỉ phi. Nước chiếm trên 5% diện tích tái đắt với khối lượng ước tính khoảng 1,4 ti kmŠ. Tuy nhiên, lượng nước toàn thé giới hiện tại dang bị 6 nhiễm và suy giảm do nhiều nguyên nhân, có thể ly ví dụ như: sử dụng nước không hiệu quả, kế hoạch sử dụng nước không bền van bị ô nhiễm trong sản xuất, sinh hoạt hoặc bị ô nhiễm do thảm họa thiên nhiên.
Dưới đây là một số ví dụ điển hình. Theo các báo cáo cia các tổ chức quốc tế như UNEP. UNESCO, UNICEF, FAO, đến năm 2020, có khoảng % khu vực trên thể giới sẽ bị 6 nhiễm do các tác động trong sinh hoạt và sin xuất của con người, con số ngày sẽ cồn tang lên. Cũng theo các báo cáo này, khoảng 1/4 khu vực nghiên cứu cho chất lơ limg có trong nước tăng cao, nguyên nhân là do nước thai, rác thải không được.
xử lý ding tiêu chuẩn, xã thải trự tiếp ra moi trường, các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng có thể kế đến như khu vực biển Caribbean, khu vực Đông Nam Á, Đông Phi, Brazil, hỗ Rift Valley. Sự ô nhiêm nguồn nước không những được các quốc gia đầu tr vào nghiên cứu và theo đi, mã còn được đỀ xuất, xây dựng thành một chương tình hành động riêng với mục dich để báo vệ nguồn nước. ¥ Tại Vương Quốc Anh, đầu thể kỹ 19, sông Tamiserắt sạch, nhưng vào thời kỳ bing nỗ đại công nghiệp, đô thị hóa và di cư của người din từ các vùng khác đến, con sông ay (những năm 60 của th kỹ 20), trở thành một ông cổng lộ tị n, sự ô nhiễm nặng né đến nỗi không có bat kỳ giải pháp nào có thẻ được áp dụng dé trả lại sự trong sạch của dòng sông vào thời điểm đó{ 1] ¥ Năm 1984, Bhopal (Ân Độ) là nơi đã xây ra một ai nạn kinh hoàng khi nhà máy thuốc trừ sâu Union Carbide India thi ra mỗi trường 40 t izoxianat và melaLàm ô nhiễm trim trọng nguồn nước trong các hệ thống thủy lợi và ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái và đặc biệt là sức khóe người din. Ước tính khoảng 15.000 người đã tứ vong do nguồn nước bị nhiễm độc.
[17IIIE] Nằm tại khu vực chính giữa đắt nước Trung Quốc, dang sông Huai dit 1.978 km được coi như nơi 6 nhiễm nhất nước này do các chất thải công nghiệp và nông nghiệp. Mức độ mắc các bệnh cao bắt thưởng của cộng đồng dân cư sống gin lưu vực sông đã khiến chính phủ phải xếp nguồn nước của con sông ở mức độ ô nhiễm độc hại nhất Tuy nhiền, chính phủ Trung Quốc hiện dang cùng với Ngân hàng thể giới nỗ lực giải quyết tình trung này{19] ¥ Sông Citarum (Indonexia), rộng 13.000 km2, là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia, Dòng sông này là một phin không thể thay thé trong cuộc sống của người din ving Tây dio Java. Nó chảy qua những cánh đồng lúa và những thành phổ lớn nhất Indonesia, Theo số liệu của Ngân hàng Phat triển châu A (ADB), sông Citarum cũng cắp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 trigu dân thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng làm ra 5% sản lượng lúa gạo và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy - nơi lim ra 203% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này. Tuya „hiện tại nó cũng là một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thể giới.
Citarum như một bãi rác di động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nước từ các cánh đồng va cả chất thải do cơn người dé xuống 1. Chất lượng nước ở một số hệ thống thủy lợi tại Việt Nam HỆ thống thủy lợi Bắc Hưng Hãi (BHH) Kết quả quan trắc từ 2005 ~ 2015 của Viện Nước, Tdi tiêu và Môi trường cho thấy: Ô nhiễm nước trong hệ thống thủy lợi BHH tiép tục gia ting cả về phạm vi và mức độ thể hiện ở tỷ lệ các điểm ô nhiễm và him lượng các chất ô nhiễm ởmột số lần quan trắc có xu hướng năm sau ting cao hơn so với nấm tước. thông số vượt TCCP so với QCVN 08-MT-2015 cột BI: Tỷ lệ % điểm quan trắc có tử Š thông số 6 nhiễm tăng theo từng năm và tăng đột biến cao nhất vào các năm từ 2013-2015 với tỷ lệ % số điểm có từ 5 thông số 6 nhiễm trên 33⁄%[1]. Số thông số ô nhiễm ở các vị tí quan tắc tăng lên chứng tỏ mức độ 6 nhiễm nước trong bệ thông thủy lợi BHH ngày cing gia tăng Các thông số 6 nhiễm vượt TCCP ở các diém quan trắc phổ biến như DO, COD, N-NHL', NO, Coliform, CLPerfringen.
Các thông số kim loại nặng (As, Cd, Cr, Pb) và Cr, SO. còn nằm trong TCCP nhưng khi so ánh kết quả quan trắc qua các năm cũng đã cỏ xu hướng tăng theo từng năm, Hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống HỆ thống thủy lợi Bắc Đuồng là một trong các hệ thống thủy lại quan trọng của đồng bằng châu thd sông Hồng được xây dựng từ năm 1962 có nhiệm vụ tưới cho 41,000 ha và tiêu 53.000 ha diện tích phần lớntỉnh Bắc Ninh gém các huyện Tiên Son, Qué Võ, ‘Yn Phong, thị xã Bắc Ninh, Tổng chiều dai hệ thống kênh tưới tiêu các loại khoảng 500 km. Hệ thống gồm hai nhnh kênh tưới chính là nh Bắc Trinh Xá dài 35 km và. kênh Nam Trịnh Xá dài 25 km.
Nguồn nước tưới của hệ thống được lấy từ sông Đuống qua cổng Long Tit vào trạm bơm Trịnh Xã để bơm vào hai bệ thống kênh chính phục vụ cho 75% nhu cầu tưới của hệ thing, 25% còn lại được ly từ sông Cầu qua trạm bơm Kim Đôi và một số trạm nhỏ khác. Hệ théng tiêu bao gồm sông Ngũ Huyện Khê, ngôi Tảo Khê, kênh tiêu đường 16, ngồi Kim Đôi, kênh tiêu Trinh Xi. hướng tiêu et là ra sông qua cửa Đặng Xá, Van An và sông Dudng bằng bơm. động lực [2]CI t lượng nước hệ thống Bắc Duéng dang trong tình trạng bị suy thoái nghiêm trọng, mức độ ô nhiễm tập trung tại nhiều vị tí trên sông Ngũ Huyện Khê và một số vị trí trên hệ thống kênh mương.
Theo thời gian mức độ. trên sông ting hơn về mùa khô và giảm hơn vỀ mùa mưa. Ngoài ra mức độ ô nhiễm ban trên sông còn phụ thuộc vào các yếu tổ khác như vận hành và các hoạt động khác trên lưu vực. do những bién động bắt thường vin thi tết khí hậu.
Tác nhân gây 6 nhiễm chính gây suy thoái chất lượng nước hệ thong thủy lợi Bắc Đuống là do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội với ốc độ rất nhanh mà không chú trọng đến bảo vệ nguồn nước và môi trường nói chung, Nước thải và chất thải rắn không được xử lý từ các làng nại dọc sông Ngũ Huyện Khê, các khu nghiệp mới dang hình thinh trong tinh Bắc Ninh và nguồn nước thải sinh hoạt của khu din cư. ất cả đều được tiêu thoát chính qua hệ thống thủy lợi Bắc Đuống làm cho hệ thống bị bồi lắp thu hep và trở nên quá tải. Sự đô thj hóa của thành phố Bắc Ninh và các huyện thị ân cận đã an lip các vực nước vốn đã rất hiểm trong vùng, gây cản trở quá trình tiêu thoát chung trong khu vực. biển hệ thống thủy lợi Bắc Đuống thành hệ thống tiều chưng cia khu vực + Hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ HỆ thống thuỷ nông sông Nhuệ là một hệ hổng có trực chảy Bắc Nam, 10 nguồn nước: lấy từ sông Hồng vào sông Nhu qua cống Liên Mạc và nối với ông Đáy.
Bi qua dia phận tỉnh Hà Nam và thủ đô Hà Nội, sông Nhuệ nhận một lượng nước thải tương đối lớn riêng thủ đô Hà Nội hàng ngiy đỗ ra khoảng 500.000 m* nước thải các loại tương cương với lưu lượng trừng bình ngày khoảng gin 6 ms, đây là lượng nước đáng kể đồng góp vào đồng chây sông Nhuệ trong thời kỳ mùa kiệt 14] Trong tương hi, với tốc độ đồ thị hoá mạnh mẽ như hiện nay, lượng nước thải này còn có thể cao hơn nữa. Xét về vấn đề số lượng, trong thời kỳ hiếm hoi về nguồn nước như giai đoạn mùa kiệt hàng năm đây là một lượng nước v6 cùng quý giá. nhưng điều đáng buỗn là chất lượng ‘ela nước thai vào hệ thống thực sự tồi tệ, đã và sẽ phá hông toàn bộ chất lượng nguồn nước liy được từ sông Hồng nhằm cấp cho các nhu cầu sử dụng vùng hạ lưu. Không đừng lại ở vấn để gây thiểu nước, dong sông Nhuệ hiện nay côn đóng vai trò của nguồn vận chuyển, lan truyền 6 nhiễm gây bậu quả khôn lường cho một khu vực rộng lớn của đồng bằng 1g Hồng.
Nguồn nước của sông Nhuệ bắt đầu bị ô nhiễm nghiêm trọng từ Cầu Tó điểm nhận nước thải lớn nhất ừ sông Tô Lịch. Hàm lượng các chất gây ô nhiễmth hi qua nhú cầu oxi sinh học BOD, nhủ cầu oxi hoá học COD, hoặc các chất thuộc nhóm N như NHL* hay nhóm vi khuẩn như: Coliform, Fecal. Coliform, Chit lượng nước sông Nhuệ bị ð nhiễm nặng là do tiếp nhận nước tải từ các nguồn thải trực tibp va gián iếp Sông Dam nhận toàn bộ nước thải từ hoạt động nông nghiệp, sản xuất của khu vực. huyện Dan Phượng.
Kênh Xuân La: nhận một phần nước thi từ khu vực huyện Từ Liêm, quận Tây Hồ. Kênh Phú Đô: nhận nước thải tập trung huyện Từ Liêm và toàn bộ khu vue chung cư Mỹ Binh. Sông Cầu Ngà nhận toàn bộ nước thi từ các hoạt động sản xuất của khu vực huyện Hoài Đức và các cơ sở sản xuất tiêu tha công nghiệp tại khu vực Câu Nea. Sông Tô Lịch ti đập Thanh Liệt là điểm xã lớn nhất vào sông Nhug do nó nhận nước toàn bộ từ sông Tô Lịch (bao gồm cả sông Lit) và một phần lượng nước thải từ sông Kim Ngưu (bao gồm cả sông Sét) [4] “Theo văn bản ký kế giữ thành phố Hà Nội và tinh Hà Nam, tong tồi gian thing 11 năm trước đết tháng 4 năm sau thành phố Ha Nội không xả nước thải vào sông Như xã vào hệ thống hồ Sở và bơm ra sông Hồng.
Tuy nhiên trên thực tế nh trạng xả nước thải từ đập Thanh Liệt vào sông Nhu vẫn xảy ra gây nên tình trang 6 nhiễm trên hệ thống sông Nhuệ. Ngo!