Chương 1: Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu và cơ chế tác động của BDKH đến hoạt động phát triển du lịch biển. Chương 2: Hiện trạng tác động biến đổi khí hậu doi với hoạt động phát triển du lịch biển tại khu vực trọng điểm du lịch TT-Hué -Quảng Nam. Chương 3:Đề xuất giải pháp ứng phó với tác động của BĐKH trong hoạt động phát triển du lịch biển trên địa bàn TT-Hué -Quảng Nam. 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BIEN DOI KHÍ HẬU VÀ CƠ CHE TÁC ĐỘNG CUA BĐKH DEN HOAT ĐỘNG PHÁT TRIEN DU LỊCH BIÊN 1.
Một số khái niệm chung về biến đỗi khí hậu LI. Khai niệm về bién đổi khí hậu. Khái niệm về Khí hậu không tách rời với khái niệm về Thời tiết, như thé Thời tiết là trạng thái của khí quyền tại một điểm nhất định được xác định bang tông hợp các yếu tố như sau: nhiệt độ, áp suất, độ âm, tốc độ gió, mưa, V. Mà hiện nay khái niệm về Khí hậu khá thống nhất về nội dung mặc dù còn có sự khách biệt trong cách sử dụng về ngôn từ.
Tuy nhiên, khái niệm khá phô biến và đơn giản về khí hậu đã được đưa ra, theo đó là: “Khí hậu là thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài. Thông thường thời gian trung bình chuẩn để xem xét trong trường hợp nảy là 30 năm, tuy nhiên khoảng thời gian này có thé khác tùy theo mục đích sử dụng. Khí hậu cũng có thê bao gồm các số liệu thống kê theo ngày hoặc năm khác nhau”. Sự khác nhau giữa Kí hậu và Thời tiét thường được tom tắt qua thành ngữ “Khí hậu là những gì bạn mong đợi, thời tiết là những gì bạn nhận được”.
Trong lịch sử có một số yếu tố để xác định khí hậu là không đổi (hoặc chỉ thay đổi rất ít theo thời gian) như tọa độ địa lý, độ cao, tỷ lệ giữa đất và nước, và các đại dương. Cũng có một số yếu tố tác động đến khí hậu có thé có những biến động. Vi dụ, sự thay đổi của lượng khí nha kính trong bầu khí quyền sẽ ảnh hưởng đến mức độ lượng năng lượng mặt trời tới Trái đất, mật độ/độ phủ thảm thực vật sẽ có ảnh hưởng đến mức độ hấp. thu năng lượng mặt trời và khả năng duy trì lượng nước mưa trong đất ở cấp khu vực, từ đó dẫn đến sự ấm lên hay lạnh đi trên toàn cầu.
Biến đổi khí hậu (BDKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian đài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BDKH mà tiêu biểu là hiện tượng nóng lên toàn cầu đã được phát hiện từ nửa cuối thế kỷ XX và được khăng định dần qua các kết quả nghiên cứu của Uy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) thuộc Liên Hiệp Quốc từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước đến nay (IPCC-2006). Hội nghị thượng đỉnh toàn câu tại Rio de Janero (1992) với Công ước khung về Biến đổi khí hậu (BDKH), Hội nghị Kioto (1997) với nghị định thu Kioto. đã nói lên tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề BĐKH.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới ở Johannesburg (2002) và trước đó là “Chương trình nghị sự 21” về phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, BĐKH tiếp tục được coi là nguy cơ trọng yếu đối với mục tiêu phát triển bền vững đôi hỏi sự chung sức khắc phục của toàn nhân loại. Về nguyên nhân của BĐHK hiện còn có nhiềuý kiến khác nhau, tuy nhiên đa số ý kiến đều thống nhất là các hoạt động của con người, bao gồm 13 cả hoạt động khai thác sử dụng đất đã làm thay đổi thành phần của khí quyền và qua đó góp phần vào quá trình làm BĐKH. BĐKH là một thực tế. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), một cơ quan khoa học do Liên Hiệp Quốc đứng đầu, trong một báo cáo mới đây nhất của mình do 2.500 chuyên gia đến từ 130 nước chuẩn bị, đã chỉ ra răng sự tích tụ khí Các bon nic (CO¿) trong bầu khí quyền của Trái Đất đang ở mức cao chưa từng có trong vòng 650.
Mà nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nêu trên được cho là đo các hoạt động của cong người. Theo kết quả nghiên cứu của IPCC, từ khi loài người bước vào thời kỳ công nghiệp hóa (giữa thế kỷ XVIII) phát thải khí nhà kính (CO;, NạO, NO, CH¿, H;S, bụi và hơi nước) từ hoạt động công nghiệp va phá rừng đã làm nhiệt độ bề mặt trái đất không ngừng tăng lên và hậu quả của sự tăng nhiệt này đã làm mực nước biển dâng cao thêm, hoạt động của các nhiễu động khí quyên tăng và mạnh lên, dẫn tới hoạt động của các thiên tai mạnh lên. Chỉ với mức tăng 0,74°C của nhiệt độ trung bình toàn cầu trong một thế kỷ qua (IPCC, 2007) đã làm cho mực nước Đại dương dâng cao thêm 15-20 cm, hoạt động của các thiên tai tang mạnh trên nhiều khu vực. thiệt hại cả người và vật chất tăng lên nhanh.
Tổn that hàng năm do thiên tai khí tượng, từ dưới 10 tỷ USD (thập ky 50) lên 50-60 tỷ USD (thập ky 90 của thế kỷ XX) (IPCC-2001). Theo báo cáo mới nhất của IPCC (2007), cudi thé ky này (thập ky 70-80) khi ham lượng nhà kính tăng lên gap đôi so với thời ky tiền-công nghiệp, nhiệt độ trung bình toàn câu sẽ tăng lên từ 2°C đến 4,5°C, nghĩa là tăng gấp 3-6 lần so với thé kỷ trước; khi đó nước biện có thé dâng cao thêm 28-58 cm (so với 1989-1999) và có thé tới 1 mét nếu tốc độ tan băng ở 2 cực tiếp tục như hiện nay. Trong bối cảnh đó, thiên tai như bão, bão tuyết, lốc, mưa lớn, hạn hán, những đợt nắng nóng, thậm chí cả những đợt băng gid., lũ lớn trên song, lũ quét và sat lở đất ở các vùng núi; sóng cao, nước dâng trong bão. sẽ có xu hướng tăng lên và có những biến động khó lường hết được.
Trạng thái khí hậu, thủy văn của nhiều vùng, đặc biệt các vùng có khí hậu lạnh, vùng khô can, vùng ven biên. sẽ có những thay đôi đáng kể. BĐKH và biểu hiện của nó cũng có liên quan chặc chẽ đến hiện tượng El Nino và La Nina. “E] Nino” là từ được dùng dé chỉ hiện tượng nóng lên di thường của lớp nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo trung tâm và Đông Thái Bình Dương, kéo dài 8-12 tháng, hoặc lâu hơn, thường xuất hiện 3-4 năm 1 lần, song cũng có khi dày hơn hoặc thưa hơn.
“La Nina” là hiện tượng lớp nước biển bề mặt ở khu vực nói trên lạnh di di thường, xảy ra với chu kỳ tương tự hoặc thưa hon El Nino. ENSO là chữ viết tắt của các từ ghép El Nino Southern Oscillationg (El Nino-Dao động Nam) dé chỉ cả 2 hiện tượng El Nino và La Nina và có 14 liên quan với dao động của khí áp giữa 2 bờ phía Đông Thái Bình Dương với phía Tây Thái Bình Dương - Đông An Độ Dương (được gọi là Dao động Nam) đề phân biệt với (dao động khí áp ở Bắc Đại Tây Dương). Hiện tượng El Nino và La Nina có ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu toàn cầu với mức độ khác nhau và rất đa dạng. Tuy nhiên, đối với từng khu vực cụ thể, van có thê xác định được những ảnh hưởng chủ yếu có tính đặc trưng cau mỗi hiện tượng nói trên.
Hiện tượngEl nino và La Nina thé hiện sự biến động di thường trong hệ thống khí quyền — Đại đương với quy mô thời gian giữa các năm, có tính chu kỳ hoặc chuẩn chu kỳ. Trong tình hình biến đổi khí hậu — sự nóng lên toàn cầu, hiện tượng ENSO cũng có những biểu hiện dị thường về cường độ. Nghiên cứu hiện tượng ENSO để hiểu biết về cơ chế vật lý, đặc điểm và quy luật diễn biến cũng như những hậu quả tác động của chúng, chúng ta có thể cảnh báo trước sự xuất hiện của ENSO, những ảnh hưởng có thé xảy ra đối với thời tiết, khí hậu và kinh tế - xã hội dé có những biện pháp phòng, tránh hiệu quả, hạn chế và giảm nhẹ thiệt hại do ENSO gay ra. BDKH được xem là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại và các hệ sinh thái trên Trái đất trong thé kỷ XXI, trong đó có Việt Nam.
BĐKH và hệ quả gây ra cho môi trường tự nhiên cũng như các hoạt động hoạt động kinh tế - xã hội được đưa ra trên Sơ dé 1 Sơ đồ 1.1: Các biéu hiện và hệ quả của Biến đổi khí hậu [HT OAT Chú thích: © —> Trực tiếp aa Gian tiêp 15 1. Những biểu hiện chủyeu của biễn đổi khí hậu Biểu hiện của Biến đôi khí hậu có thé thay là hệ thống khí quyền bị nóng lên; sự tăng lên của nhiệt độ trung bình khí quyền toàn cau và nhiệt độ Đại dương; sự tan chảy của băng tuyết cũng như mực nước biển dâng (NBD); sự xuất hiện của các hiện tượng khí hậu cực đoan như lốc xoáy, lũ lụt,. Day là những biểu hiện có thể quan sát được, đặc biệt trong thời gian gần đây trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo 2007 của IPCC, những biểu hiện của biến đồi khí hậu có thé quan sát được trong vòng 50 năm qua bao gồm: Những ngày lạnh giá, đêm lạnh giá trở lên ít thường xuyên hơn ở hầu hết các lục địa trong khi những ngày, đêm nóng bức lại trở nên phổ biến.
Những hiện tượng thời tiết cực đoan có thê nhận thấy là sự xuất hiện những ngày nóng trở nên nóng hơn, những ngày lạnh trở nên lạnh hơn; những cơn bảo trở nên mạnh hơn, những cơn lốc xoáy nguy hại hơn, mưa lớn và lũ lụt diễn ra ở diện rộng hơn. Những luồng gió nóng xuất hiện thường xuyên nhiều hon ở các lục địa. Những trận mưa đá dữ dội hoặc mưa trút nước tăng lên ở hầu hết các khu vực và trở nên thường xuyên. Mực triều cường đã dâng cao hơn trên diện rộng ở nhiều vùng trên thé giới ké từ năm 1975.
Bên cạnh những biểu hiện của BĐKH thì tác động của biến đổi khí hậu có thể nhận thấy như sau: (báo cáo về biến đổi khí hậu 2007 của IPCC) Biến đổi khí hậu làm thay đổi thành phần và chất lượng khí quyên theo hướng có hại cho môi trường sống và các sinh vật trên Trái đất. Quan sát ở tất cả các Châu lục và Đại dương cho thấy hệ tự nhiên đang bị tác động bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là do tình trạng tăng nhiệt độ.