Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo, được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm 5 quốc gia chịu tổn thương nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo các mô hình dự báo quốc tế, khi mực nước biển dâng 1 m, khoảng 5% diện tích đất liền của Việt Nam sẽ bị ngập lụt hoàn toàn, tác động trực tiếp đến 11% dân số và có nguy cơ làm sụt giảm 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, tỉnh Nghệ An có bờ biển dài 82 km cùng hệ thống 6 cửa lạch lớn gồm Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Thơi, Lạch Vạn, Cửa Lò và Cửa Hội, là địa bàn đặc biệt nhạy cảm trước các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão nhiệt đới, lũ lụt, nắng nóng gay gắt và hiện tượng nước biển dâng.

Luận văn tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá có hệ thống mức độ tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới các ngành kinh tế trọng điểm vùng ven biển Nghệ An, từ đó xây dựng các giải pháp ứng phó đồng bộ và khả thi. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 5 đơn vị hành chính ven biển gồm thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc với tổng diện tích tự nhiên 1.386,73 km2, quy mô dân số 1.194,99 nghìn người (chiếm 38,53% dân số toàn tỉnh và mật độ bình quân 862 người/km2). Phạm vi thời gian phân tích chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo liên tục trong 50 năm (1958–2008), hiện trạng kinh tế - xã hội giai đoạn 2001–2007 và dự báo xu thế đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập luận cứ khoa học định lượng, giúp chính quyền địa phương bảo vệ sinh kế của hơn 585.000 lao động và hạn chế mức tổn thất kinh tế có thể chiếm tới 5% đến 20% GDP hàng năm theo cảnh báo của các mô hình kinh tế khí hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa khoa học khí hậu và kinh tế học tài nguyên môi trường. Luận văn vận dụng lý thuyết hệ thống khí hậu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), xem xét biến đổi khí hậu là sự thay đổi cấu trúc và tương tác giữa khí quyển, thủy quyển, sinh quyển dưới tác động của ngoại lực tự nhiên và hoạt động nhân sinh từ thời kỳ tiền công nghiệp năm 1750. Đồng thời, tác giả áp dụng khung đánh giá mức độ tổn thương và khả năng thích ứng từ Báo cáo đánh giá lần thứ tư (AR4) của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), kết hợp hệ thống kịch bản phát thải khí nhà kính SRES (như các kịch bản A2, A1B và B1) với dự báo nồng độ CO2 khí quyển có thể đạt từ 540 ppm đến 970 ppm vào năm 2100.

Bên cạnh đó, khung lý thuyết kinh tế khí hậu của Nicholas Stern được khai thác để lượng hóa các rủi ro tài chính, chứng minh rằng chi phí hành động sớm chỉ chiếm khoảng 1% GDP toàn cầu, trong khi thiệt hại do thụ động có thể vượt mức 5% đến 20% GDP mỗi năm. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chuỗi liên hoàn: Biến đổi khí hậu toàn cầu và nồng độ khí nhà kính (CO2, CH4, N2O) → Diễn biến vi khí hậu và hải văn địa phương (nhiệt độ, lượng mưa, cực đoan khí hậu, mực nước biển dâng) → Tác động trực tiếp và gián tiếp lên các hệ sinh thái kinh tế (nông nghiệp trồng trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản, dịch vụ du lịch biển) → Đề xuất nhóm giải pháp thích ứng công trình và phi công trình. Hệ khái niệm trung tâm bao gồm: Biến đổi khí hậu (Climate Change), Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability), Mực nước biển dâng (Sea Level Rise), Khả năng thích ứng (Adaptation Capacity) và Hiệu ứng nhà kính (Greenhouse Effect).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ mạng lưới trạm quan trắc của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường tại Nghệ An (bao gồm các trạm Vinh, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Hòn Ngư) với chuỗi số liệu nhiệt độ, lượng mưa giai đoạn 1958–2008; chuỗi số liệu mực nước trạm hải văn ven biển và vệ tinh viễn thám giai đoạn 1993–2010; kết hợp hệ thống niên giám thống kê và báo cáo chuyên ngành nông nghiệp, thủy sản, du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000–2008.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng toàn bộ chuỗi dữ liệu chu kỳ 50 năm với hàng chục nghìn điểm đo khí tượng liên tục nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê cao nhất. Không gian khảo sát chọn mẫu có chủ đích đại diện 100% cho toàn bộ 5 huyện, thành phố và thị xã ven biển của tỉnh, đồng thời khảo sát thực trạng hoạt động của 1.800 tàu khai thác hải sản, hơn 800 cơ sở chế biến và 2.650 ha đầm nuôi trồng mặn lợ.

Phương pháp phân tích chuỗi thời gian (Time-series Analysis) kết hợp mô hình hồi quy tuyến tính dạng y = ax + b được lựa chọn nhằm xác định chính xác tốc độ và biên độ thay đổi của chuẩn sai nhiệt độ cũng như tỷ lệ biến thiên lượng mưa. Lý do lựa chọn phương pháp này là khả năng loại bỏ các nhiễu động thời tiết ngắn hạn để làm nổi bật xu thế biến đổi khí hậu dài hạn có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, phương pháp chuyên gia (Expert Elicitation) và phương pháp so sánh các trường hợp tương tự (Analogous Case Analysis) tại các tỉnh duyên hải miền Trung như Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị được áp dụng để đối chiếu, kiểm chứng và dự báo các tổn thất kinh tế tiềm tàng theo kịch bản phát triển đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhiệt độ không khí tại Nghệ An gia tăng rõ rệt trên mọi thang thời gian trong chuỗi số liệu 50 năm (1958–2008). Chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm tuân theo phương trình xu thế y = 0,011x - 0,297, tương ứng mức tăng 0,55°C sau 50 năm. Đáng chú ý, nhiệt độ mùa đông (tháng 1) có tốc độ tăng mạnh nhất đạt 0,026°C/năm (phương trình y = 0,026x - 0,674), làm cho nhiệt độ mùa đông tăng tổng cộng tới 1,3°C trong nửa thế kỷ qua. Nhiệt độ mùa hè (tháng 7) tăng 0,85°C với tốc độ 0,017°C/năm. Tần suất xuất hiện các đợt nắng nóng cực đoan trên 35°C ghi nhận mức độ cao tại khu vực ven biển, đạt 32 ngày/năm tại thành phố Vinh và 16,95 ngày/năm tại Quỳnh Lưu, trong khi số ngày nhiệt độ cực tiểu dưới 10°C giảm mạnh, chỉ còn xuất hiện trung bình từ 3,05 đến 3,72 ngày/năm.

Thứ hai, lượng mưa phân bố không đều và có xu thế suy giảm nghiêm trọng trong mùa khô lẫn mùa mưa, làm gia tăng nguy cơ hạn hán. Lượng mưa tháng 4 (đại diện mùa khô) giảm với tốc độ 0,141%/năm (phương trình y = -0,141x + 3,597), dẫn đến mức giảm 7,05% sau 50 năm. Lượng mưa tháng 10 (đại diện mùa mưa lũ) giảm 11,15% với tốc độ 0,223%/năm (phương trình y = -0,223x + 5,693). Tổng lượng mưa năm suy giảm 9,2% trong 50 năm (tốc độ giảm 0,184%/năm theo phương trình y = -0,184x + 4,711). Tình trạng mùa cạn kéo dài 7–8 tháng nhưng chỉ tập trung 10–30% tổng lượng dòng chảy cả năm đã khiến hiện tượng xâm nhập mặn lấn sâu vào hạ lưu hệ thống sông Cả.

Thứ ba, tốc độ dâng của mực nước biển và sóng triều cực đoan đe dọa trực tiếp dải đê điều ven bờ. Tốc độ dâng mực nước biển đo đạc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam đạt bình quân 2,8–2,9 mm/năm, và số liệu vệ tinh trên Biển Đông giai đoạn 1993–2010 ghi nhận mức tăng tới 4,7 mm/năm. Khi triều cường trùng với các cơn bão nhiệt đới, nước dâng kết hợp sóng biển đạt chiều cao từ 4–5 m, tạo sức tàn phá nghiêm trọng đối với 82 km tuyến đê biển và gây xói lở các bãi bồi ven sông.

Thứ tư, tác động bất lợi của biến đổi khí hậu thể hiện rõ nét trên ba trụ cột kinh tế ven bờ:

  • Nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm 39,2% diện tích tự nhiên vùng ven biển bị đe dọa bởi hạn hán và nhiễm mặn, làm giảm năng suất lúa và diện tích trồng lạc xuất khẩu (vốn chiếm hơn 60% sản lượng toàn tỉnh).
  • Thủy hải sản: Gây rủi ro bùng phát dịch bệnh và sốc môi trường cho 2.650 ha diện tích nuôi tôm nước lợ với sản lượng 3.680 tấn (năm 2007), đồng thời gây mất an toàn cho đội tàu 1.800 chiếc hoạt động khai thác.
  • Du lịch: Biến đổi khí hậu làm xói mòn bãi cát biển Cửa Lò, Nghi Thiết, rút ngắn mùa vụ khai thác và đe dọa doanh thu ngành du lịch biển đạt 531,86 tỷ đồng cùng hệ thống 330 khách sạn với 7.923 phòng lưu trú.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các diễn biến khí hậu tại Nghệ An xuất phát từ sự tương tác giữa hiện tượng ấm lên toàn cầu với địa hình đặc thù sườn Đông Bắc dãy Trường Sơn. Khu vực có độ dốc lớn nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, mạng lưới sông suối ngắn dốc khiến lũ lên nhanh nhưng cạn kiệt cũng rất nhanh trong mùa khô. Khi kết hợp với hiệu ứng gió phơn Tây Nam khô nóng vào mùa hè và gió mùa Đông Bắc biến tính vào mùa đông, mức độ tổn thương sinh thái càng gia tăng.

Toàn bộ các chuỗi số liệu diễn biến nhiệt độ và lượng mưa giai đoạn 1958–2008 được biểu diễn thông qua các đồ thị phân tán kết hợp đường xu thế tuyến tính đa thời gian, minh chứng mối tương quan nghịch đảo rõ rệt giữa nhiệt độ bề mặt gia tăng và lượng mưa suy giảm. So sánh với các nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế và Quảng Bình, biên độ tăng nhiệt độ mùa đông tại Nghệ An (1,3°C/50 năm) diễn ra với tốc độ nhanh hơn mức bình quân khu vực Bắc Trung Bộ (0,5–0,6°C). Điều này làm biến đổi sâu sắc lịch thời vụ truyền thống và gây xáo trộn tập tính sinh sản của các loài thủy hải sản ven bờ. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết phải tái cơ cấu kinh tế sinh kế cho 59,62% lực lượng lao động nông lâm thủy sản (349.035 người) nhằm tránh các đứt gãy kinh tế xã hội trước nguy cơ thiên tai gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và mùa vụ nông nghiệp thích ứng xâm nhập mặn:

    • Hành động: Chủ động chuyển đổi tối thiểu 25–30% diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả bị nhiễm mặn và khô hạn sang trồng các loại cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao như lạc xuất khẩu, vừng và rau màu công nghệ cao. Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước tại các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc.
    • Target metric: Duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp trên 4%/năm, đảm bảo năng suất lạc đạt trên 2,5 tấn/ha.
    • Timeline: Giai đoạn 2012–2016 và hoàn thiện mạng lưới trước năm 2020.
    • Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An chủ trì, phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và UBND các huyện ven biển.
  2. Nâng cấp hạ tầng bảo vệ đê điều và hiện đại hóa năng lực khai thác, nuôi trồng thủy hải sản:

    • Hành động: Kiên cố hóa toàn bộ 82 km đê biển, đê cửa sông chịu được bão cấp 11–12 và triều cường dâng cao 4–5 m; hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước riêng biệt cho 2.650 ha vùng nuôi tôm thâm canh tập trung tại Quỳnh Bảng, Quỳnh Liên, Hưng Hòa; trang bị thiết bị giám sát hành trình và máy thông tin tầm xa cho 100% đội tàu đánh bắt xa bờ có công suất trên 90 CV.
    • Target metric: Đạt sản lượng nuôi trồng mặn lợ trên 5.000 tấn/năm, nâng kim ngạch xuất khẩu thủy sản vượt mốc 40 triệu USD vào năm 2020, giảm 50% thiệt hại tàu thuyền do thiên tai.
    • Timeline: Triển khai thường niên, ưu tiên các hạng mục xung yếu hoàn thành trước năm 2018.
    • Chủ thể thực hiện: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản phối hợp Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Nghệ An.
  3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển nhằm thích ứng với tính mùa vụ và thời tiết cực đoan:

    • Hành động: Tái quy hoạch không gian bờ biển bãi tắm Cửa Lò, Bãi Lữ; xây dựng kè mềm chống sạt lở bãi cát; phát triển các chuỗi sản phẩm du lịch 4 mùa kết hợp du lịch nghỉ dưỡng biển với du lịch sinh thái rừng ngập mặn Hưng Hòa, du lịch văn hóa lịch sử Kim Liên và du lịch hội nghị quốc tế (MICE).
    • Target metric: Nâng tỷ lệ lấp đầy phòng lưu trú trong mùa đông từ dưới 20% lên 45%, tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,7 ngày lên 2,5 ngày/lượt và thu hút trên 3 triệu lượt khách/năm.
    • Timeline: Giai đoạn 2012–2020.
    • Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An phối hợp Hiệp hội Du lịch tỉnh và các doanh nghiệp lữ hành.
  4. Tích hợp kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

    • Hành động: Rà soát và lồng ghép các chỉ số kịch bản biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, nước biển dâng từ 0,09 m đến 0,88 m theo SRES) vào 100% đồ án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội các huyện ven biển; tổ chức đào tạo nghề kỹ thuật cho lao động vùng bãi ngang ven biển.
    • Target metric: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật vùng ven biển từ 16,3% lên 35% vào năm 2020, đảm bảo 100% cán bộ quản lý cấp xã ven biển được tập huấn kỹ năng quản lý rủi ro thiên tai.
    • Timeline: Thực hiện định kỳ hàng năm trong giai đoạn 2011–2020.
    • Chủ thể thực hiện: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An và UBND các huyện, thành phố, thị xã ven bờ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan quy hoạch không gian lãnh thổ:

    • Lợi ích: Cung cấp hệ thống kịch bản khí tượng thủy văn định lượng và các phương trình dự báo xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa làm căn cứ vững chắc cho việc phê duyệt quy hoạch xây dựng hạ tầng, phân bổ vốn đầu tư công thích ứng với thiên tai tại dải duyên hải Bắc Trung Bộ.
    • Use case: Ứng dụng trong việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển Nghệ An tầm nhìn 2020–2030 và Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh.
  2. Các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên cao học:

    • Lợi ích: Kế thừa bộ dữ liệu thực nghiệm 50 năm quý giá cùng quy trình tích hợp phương pháp phân tích chuỗi thời gian khí hậu với đánh giá tác động liên ngành kinh tế nông nghiệp, thủy sản, du lịch.
    • Use case: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy, nghiên cứu mô hình hóa kịch bản biến đổi khí hậu và phát triển các đề tài luận văn thạc sĩ thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Biến đổi khí hậu.
  3. Doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và du lịch ven biển:

    • Lợi ích: Nhận diện sớm các ngưỡng rủi ro do biến thiên nhiệt độ cực đoan, xâm nhập mặn và sóng triều dâng nhằm chủ động thiết kế công trình kiên cố, lựa chọn con giống chịu mặn và đa dạng hóa dịch vụ kinh doanh giảm thiểu thiệt hại mùa vụ.
    • Use case: Doanh nghiệp nuôi tôm thâm canh tại Quỳnh Lưu, Diễn Châu ứng dụng dữ liệu khí hậu để điều chỉnh lịch thả giống; các khách sạn tại Cửa Lò xây dựng phương án kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng mùa đông.
  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức tài trợ quốc tế về môi trường:

    • Lợi ích: Nắm bắt chi tiết bức tranh tổn thương sinh thái và xã hội tại các xã bãi ngang nghèo ven biển Nghệ An để thiết kế các dự án tài trợ phát triển bền vững đạt hiệu quả can thiệp cao nhất.
    • Use case: Xây dựng các đề xuất dự án tài trợ trồng rừng ngập mặn chắn sóng, chuyển đổi sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực ứng phó thiên tai cho cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Nghệ An biểu hiện rõ nét nhất qua những chỉ số khí tượng nào?

Biểu hiện rõ rệt nhất là chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm tăng 0,55°C sau 50 năm, trong đó nhiệt độ mùa đông tháng 1 tăng mạnh tới 1,3°C. Số ngày nắng nóng cực đoan trên 35°C tại TP. Vinh lên tới 32 ngày/năm. Đồng thời, lượng mưa mùa khô giảm 7,05%, lượng mưa mùa mưa giảm 11,15% và mực nước biển dâng bình quân 2,8–2,9 mm/năm.

Xâm nhập mặn tác động trực tiếp như thế nào đến sản xuất nông nghiệp ven biển Nghệ An?

Xâm nhập mặn diễn ra sâu vào hạ lưu sông Cả do mùa cạn kéo dài 7–8 tháng chỉ chiếm 10–30% tổng lượng dòng chảy năm. Hiện tượng này làm suy giảm chất lượng trên 39,2% diện tích đất nông nghiệp, làm giảm năng suất lúa và đe dọa vùng chuyên canh lạc xuất khẩu vốn chiếm hơn 60% sản lượng toàn tỉnh tại Quỳnh Lưu, Diễn Châu.

Ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản ven bờ chịu tổn thương cụ thể ra sao?

Ngành thủy sản chịu rủi ro lớn khi mực nước biển dâng kết hợp bão tạo sóng biển cao 4–5 m phá hủy đê kè, gây ngập úng và lây lan dịch bệnh trên 2.650 ha đầm nuôi tôm thâm canh. Ngoài ra, sự biến đổi nhiệt độ làm thay đổi ngư trường, đòi hỏi hơn 1.800 tàu cá phải tăng công suất để đánh bắt xa bờ.

Ngành du lịch biển Cửa Lò cần giải quyết thách thức gì trước tác động của thời tiết cực đoan?

Du lịch biển đối mặt với hiện tượng xói lở bãi cát và tính chất mùa vụ trầm trọng khi lượng khách chỉ tập trung vào mùa hè. Hệ thống hơn 330 cơ sở lưu trú với 7.923 phòng chịu áp lực chi phí bảo trì do bão lũ, buộc ngành phải chuyển đổi sang mô hình du lịch sinh thái, văn hóa và hội nghị 4 mùa.

Luận văn đề xuất những giải pháp công trình trọng điểm nào để giảm thiểu rủi ro thiên tai?

Nghiên cứu kiến nghị kiên cố hóa 82 km tuyến đê biển và đê cửa sông chịu được bão cấp 11–12, nạo vét thông luồng 6 cửa lạch lớn, nâng cấp âu thuyền tránh bão tại Cửa Hội, Lạch Quèn, đồng thời hoàn thiện hệ thống thủy lợi ngăn mặn giữ ngọt cho 1.386,73 km2 diện tích ven bờ.

Kết luận

  • Bằng chứng thực nghiệm rõ ràng: Chuỗi số liệu 50 năm khẳng định xu thế tăng nhiệt độ 0,55°C (mùa đông tăng 1,3°C), lượng mưa năm giảm 9,2% và mực nước biển dâng 2,8–2,9 mm/năm tại vùng duyên hải Nghệ An.
  • Mức độ tổn thương liên ngành sâu rộng: Biến đổi khí hậu đe dọa trực tiếp 39,2% diện tích đất nông nghiệp, 2.650 ha nuôi tôm nước lợ và hệ sinh thái du lịch biển đạt hơn 531 tỷ đồng doanh thu của địa phương.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật: Luận văn đã xây dựng hệ thống phương trình hồi quy khí hậu và mô hình phân tích tác động liên ngành, cung cấp luận cứ định lượng chính xác phục vụ công tác quy hoạch kinh tế biển.
  • Lộ trình triển khai đồng bộ: Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình thích ứng linh hoạt, đặt mục tiêu hoàn thành các hạng mục đê điều và chuyển đổi cơ cấu kinh tế sinh kế trong giai đoạn 2011–2020.
  • Kêu gọi hành động: Các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương lồng ghép kịch bản khí hậu vào thực tiễn đầu tư, bảo đảm an toàn sinh kế bền vững cho hơn 1,19 triệu người dân ven biển.