Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về Biến đổi khí hậu 1. Ngoài nước Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đƣa ra bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu trên toàn cầu, cụ thể là sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dƣơng, hiện tƣợng băng tan và tăng mực nƣớc biển trung bình trở nên phổ biến.
Khoảng thời gian từ 1995-2006 có 11 năm đƣợc xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt trái đất nóng kỷ lục tính từ năm 1850. Trong khoảng thời gian từ 1906-2005 nhiệt độ không khí có xu thế tăng khoảng 0,74°C (0,56°C đến 0,92°C), lớn hơn con số đƣợc đƣa ra trong báo cáo đánh giá của IPCC lần thứ 3 là 0,6°C (từ 0,4°C đến 0,8°C) (1901-2000). Nhiệt độ không khí gia tăng trên toàn cầu và ở các khu vực vĩ độ cao ở phía Bắc nhiệt độ không khí tăng nhiều hơn. Trên lục địa nóng lên nhanh hơn các khu vực trên đại dƣơng.
Tại các nƣớc khu vực Đông Nam Á cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về BĐKH đƣợc công bố. Một nghiên cứu của Manton và cộng sự vào năm 2001 về xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dƣơng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng số ngày mƣa (ngày có lƣợng mƣa từ 2 mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu, đánh giá số liệu lƣợng mƣa ngày trong thời kỳ từ năm 1950 đến năm 2000 ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á, vào năm 2009 Endo và cộng sự đã chỉ ra: số ngày có lƣợng mƣa trên 1mm có xu thế giảm ở hầu hết các nƣớc trong khu vực, trong khi đó cƣờng độ mƣa trung bình lại có xu thế tăng.
Mƣa lớn tăng lên ở phía nam Việt Nam, phía bắc Myanma và ở đảo Visayas và Luzon của Philipin trong khi đó lại giảm ở phía bắc Việt Nam. Một nghiên cứu của Peter Hayes đƣợc công bố vào năm 2008 đã mô tả cụ thể về các nhân tố khí hậu và các dạng hạ tầng chịu tác động của BĐKH. Có tới 12 nhân tố biểu hiện là bức xạ mặt trời tăng, mức ẩm ƣớt giảm, biến động của dải khô-ẩm tăng, sóng nhiệt tăng, mƣa giảm, mƣa ngày cực đại tăng, tần xuất và cƣờng độ bão tăng, tốc độ gió mạnh nhất tăng, hoạt động bão điện trƣờng tăng, tro bụi tăng, NBD cao thêm, độ ẩm có sự thay đổi. Các đối tƣợng hạ tầng cũng đƣợc xét đến khá đa dạng, bao gồm hạ tầng về đƣờng bộ, đƣờng sắt, cầu, hầm, sân bay, bến cảng, nƣớc, nƣớc thải, nƣớc lũ, điện, dầu-khí, mạng điên thoại cố định, mạng di động, công trình kiến trúc-xây dựng, tiện nghi đô thị.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong nước Hiện nay, biểu hiện của BĐKH nhƣ sự nóng lên của trái đất, NBD, sự gia tăng của thời tiết cực đoan đang trở thành một hiểm hoạ thực sự cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có những tác động trực tiếp đến phát triển KT- XH ở mỗi địa phƣơng. Năm 2011, Tổng cục Môi trƣờng – Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng- đã hoàn thành báo cáo “Điều tra, đánh giá và cảnh báo biến động của các yếu tố khí tƣợng thuỷ văn và sự dâng cao mực nƣớc biển do BĐKH có nguy cơ gây tổn thƣơng tài nguyên - môi trƣờng vùng biển và dải ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp phòng tránh và ứng phó”. Báo cáo đã phân tích, đánh giá biến động, xu thế và qui luật hoạt động của các yếu tố khí tƣợng thủy văn gây tổn thất trong mối liên hệ với sự BĐKH, trong đó khẳng định bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa, thủy triều là các nhân tố chính tạo ra sự dâng rút của mực nƣớc biển.
Bộ Xây dựng phối hợp với Tổng hội xây dựng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc về tác động của BĐKH đối với lĩnh vực xây dựng vào cuối tháng 11/2010, đây là hội thảo quy mô lớn và sâu rộng về BĐKH đối với lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam. Theo ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam, BĐKH, NBD ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển chung của thế giới và Việt Nam. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội để có thể tìm ra các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại. Trong Báo cáo “Các giải pháp quản lý tổng hợp, sử dụng, bảo tồn, bảo vệ tài nguyên – môi trƣờng biển Việt Nam theo hƣớng phát triển bền vững trên cơ sở đánh giá mức độ tổn thƣơng” (2011) của Tổng cục Môi trƣờng - Bộ tài nguyên và Môi trƣờng - đã đƣa ra giải pháp: Quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên - môi trƣờng, phục vụ phát triển bền vững cần dựa trên cơ sở phân vùng mức độ tổn thƣơng tài nguyên - môi trƣờng các vùng biển Việt Nam.
Những vùng có mức độ tổn thƣơng khác nhau tƣơng ứng với sự phân bố tài nguyên và các hình thức khai thác, sử dụng tài nguyên khác nhau; bị ảnh hƣởng bởi các tai biến ở mức độ khác nhau và tùy thuộc vào khả năng ứng phó, chống chịu và phục hồi của hệ thống tự nhiên - xã hội. Vì vậy, mức độ, cách thức sử dụng và quản lý tài nguyên - môi trƣờng cần phải điều chỉnh phù hợp với mức độ tổn thƣơng thì mới đáp ứng đƣợc yêu cầu. Quy hoạch là nội dung quan trọng phải đáp ứng theo không gian và thời gian, thực hiện theo các vấn đề ƣu tiên tăng khả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng ứng phó của hệ thống tài nguyên - môi trƣờng trƣớc tai biến. Trên cơ sở đó, các mô hình sử dụng bền vững tài nguyên - môi trƣờng (NTTS sinh thái, nông - lâm nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, công nghiệp sạch, khai thác thủy sản bền vững, khai khoáng bền vững, giao thông thủy bền vững…) các vùng biển cần đƣợc ƣu tiên áp dụng nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên - môi trƣờng và hạn chế mâu thuẫn lợi ích trong khai thác và sử dụng tài nguyên.
Mặt khác, cần áp dụng các biện pháp đồng thời nhằm bảo vệ môi trƣờng và phòng tránh thiên tai để hạn chế sự tổn thất tài nguyên – môi trƣờng Trong báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “ Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đối với một số đảo, nhóm đảo điển hình của Việt Nam và đề xuất giải pháp ứng phó” mã số BĐKH – 50, thuộc chƣơng trình KH&CN phục vụ chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, mã số KHCN- BĐKH/11-15 do chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Đại An thực hiện đã đánh giá đƣợc tác động BĐKH NBD tới điều kiện tự nhiên các đảo điển hình nhƣ nguy cơ bị ngập lụt, điều kiện thủy văn, chế độ dòng chảy, đến cân bằng nƣớc.Tác động đến phân bố trầm tích tầng mặt, tới tài nguyên sinh vật, gây biến động đến hệ sinh thái rạng san hô trong đó có đảo Bạch Long Vĩ. Báo cáo cũng nêu kết quả về tác động BĐKH NBD tới môi trƣờng và tai biến thiên nhiên làm ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng trầm tich.Kết quả nghiên cứu đã đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng của các đảo Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Côn Đảo và Phú Quốc với kịch bản BĐKH và NBD của Việt Nam năm 2012. Trong sách khảo “ Thiên nhiên và môi trƣờng vùng biển đảo Bạch Long Vĩ” do Trần Đức Thạnh làm chủ biên đã tập hợp và hệ thống các tài liệu điều tra, nghiên cứu đã có tại vùng biển đảo Bạch Long Vĩ trong thời gian qua. Tổng quan quy hoạch không gian.
Quy hoạch không gian (Spatial Planning) là một khái niệm tƣơng đồng với tổ chức/quy hoạch lãnh thổ. Quy hoạch không gian bao gồm có: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng, quy hoạch giao thông, quy hoạch môi trƣờng, quy hoạch phát triển kinh tế,… Quy hoạch không gian diễn ra ở nhiều cấp lãnh thổ, từ cấp địa phƣơng đến cấp vùng, cấp quốc gia và trong hầu hết trƣờng hợp sẽ tạo ra một bản quy hoạch không gian kèm theo (Andreas Faludi, Bas Waterhout, 2002). Trong lịch sử phát triển, quy hoạch không gian đƣợc các tổ chức và các nhà nghiên cứu đƣa ra định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Một trong những định nghĩa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sớm nhất đƣợc mô tả trong Hiến chƣơng Quy hoạch Không gian/Vùng ở khu vực châu Âu (the European Regional/Spatial Planning Charter) - còn đƣợc gọi là "Hiến chƣơng Torremolinos", Hội nghị Bộ trƣởng châu Âu Phụ trách Quy hoạch Vùng (the European Conference of Ministers responsible for Regional Planning = CEMAT) đã thông qua vào năm 1983: "Quy hoạch vùng/không gian là sự biểu diễn địa lý về các chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái.
Ngoài ra, đây cũng là một ngành khoa học, một kỹ thuật hành chính và chính sách được phát triển như là một cách tiếp cận đa ngành và toàn diện hướng tới một sự phát triển vùng cân bằng và tổ chức không gian theo một chiến lược tổng thể". Quy hoạch không gian trong thời gian gần đây là một xu hƣớng mới của quy hoạch, đặc biệt là trong khu vực châu Âu, khi cần thiết có một dạng quy hoạch bao trùm lên quy hoạch đất, quy hoạch tự nhiên/vật chất đồng thời có các nội dung liên quan đến vấn đề kinh tế - xã hội - môi trƣờng. Theo Glasson và Marshall, quy hoạch không gian có sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch vùng, bởi thực chất, quy hoạch không gian chính là sự “tiến hóa” của quy hoạch vùng nhƣng phạm vi không gian đƣợc mở rộng hơn và “mềm” hơn. Với hệ thống quy hoạch, kế hoạch trƣớc kia và hiện nay mà một số nƣớc đang áp dụng thì, trong thời kỳ mới quy hoạch không gian có thể thay thế quy hoạch vùng (Hình 1.
Sơ đồ các mối quan hệ của hệ thống quy hoạch theo các cấp: quốc gia, vùng và địa phương [ Nguồn :Cục thông tin KH&CN Quốc gia – 2013] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.