Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh chóng tại các đô thị Việt Nam đang gia tăng sức ép nặng nề lên môi trường sống, đặc biệt là bài toán quản lý chất thải rắn. Tại thành phố Hưng Yên – đô thị loại III với quy mô dân số đạt 147.000 người và mật độ dân số khu vực nội thành lên tới 10.110 người/km² vào năm 2013, lượng rác thải phát sinh mỗi ngày không ngừng tăng lên. Theo số liệu ghi nhận, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và vận chuyển xử lý trên địa bàn thành phố dao động từ 70 đến 75 tấn/ngày, trong khi tổng lượng rác thu gom năm 2013 đạt 23.949,2 tấn. Vấn đề thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải chưa đồng bộ giữa khu vực nội thành và các xã ngoại thành đang đe dọa trực tiếp đến cảnh quan đô thị cũng như chất lượng sống của cư dân.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Bùi Thị Nhung tập trung giải quyết bài toán cấp bách về quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hưng Yên. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh từ nguồn, phân tích cơ chế thu gom, vận chuyển, xử lý hiện hành, đồng thời chỉ ra các hạn chế mang tính hệ thống về trang thiết bị và hạ tầng kỹ thuật. Phạm vi nghiên cứu bao quát 17 đơn vị hành chính gồm 7 phường và 10 xã với diện tích tự nhiên 73,42 km² trong giai đoạn thu thập dữ liệu 2005 - 2014. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền địa phương nâng cao tỷ lệ thu gom rác từ mức 85-86% lên trên 95%, tối ưu hóa chi phí xử lý và kiểm soát nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và đất đai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý Quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM) và mô hình kinh tế tuần hoàn 3R (Reduce - Reuse - Recycle). Quản lý tổng hợp chất thải rắn nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, thể chế hành chính và sự tham gia của cộng đồng nhằm kiểm soát rác thải từ khâu phát sinh đến xử lý cuối cùng. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn, bao gồm: chất thải rắn sinh hoạt, phân loại tại nguồn, chất thải nguy hại và công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh. Luận văn cũng vận dụng hệ thống quy định quản lý chuyên ngành như Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên về mức thu phí vệ sinh môi trường để làm căn cứ đánh giá tính bền vững tài chính của hệ thống.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt độ tin cậy khoa học cao, nghiên cứu đã tích hợp các phương pháp định lượng và định tính chặt chẽ:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát với cỡ mẫu N = 300 hộ gia đình và cá nhân đại diện trên địa bàn 17 xã, phường. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực nội thị và ngoại thành. Nội dung phiếu điều tra tập trung vào khối lượng rác phát sinh, tập quán phân loại, thói quen xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật và mức độ hài lòng đối với dịch vụ vệ sinh môi trường.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện tiếp cận trực tiếp các nhà quản lý và cán bộ chuyên môn từ Sở Y tế, Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, cùng ban lãnh đạo và công nhân trực tiếp thu gom thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2013 và dữ liệu sơ cấp năm 2014 được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm tin học văn phòng nhằm thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và so sánh tương quan giữa các nhóm chỉ tiêu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác bức tranh thực địa từ góc nhìn đa chiều của cơ quan quản lý, doanh nghiệp vận hành và người dân thụ hưởng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra bức tranh toàn diện và chi tiết về cấu trúc phát sinh cũng như hiệu quả quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hưng Yên:

  • Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt: Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được thu gom đạt 70 - 75 tấn/ngày. Thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 80,93% tổng khối lượng (trong đó rác thực phẩm, rau củ quả chiếm 59,28%, vải sợi chiếm 3,29%, giấy bìa chiếm 2,29% và gỗ chiếm 0,83%). Rác thải nhựa chiếm 10,75% và rác vô cơ khó phân hủy chiếm 8,32% (chủ yếu là đất, đá, gốm sứ, thủy tinh chiếm 8,23%, kim loại chỉ chiếm 0,09%).
  • Hiệu quả thu gom và vận chuyển: Tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt khu vực nội thành đạt xấp xỉ 100%, phục vụ 10.736 hộ dân với khối lượng 45,7 tấn/ngày trên 133 tuyến đường phố dài 24,225 km. Tuy nhiên, tính chung toàn thành phố, tỷ lệ thu gom mới đạt khoảng 85-86% (chưa tính 5 xã mới sáp nhập). Ngoại thành có 21 điểm tập kết với lượng gom 15,3 tấn/ngày. Toàn thành phố chỉ có 3 xe ép rác (tải trọng 2,5 tấn, 5 tấn và 7 tấn), 1 xe hooklift vận chuyển container 10 m³ và 91 xe gom đẩy tay loại 400 lít.
  • Hiện trạng các nguồn thải đặc thù: Chất thải rắn nông nghiệp phát sinh 150 tấn/ngày từ trồng trọt và 100 tấn/ngày từ chăn nuôi. Đáng chú ý, 65% phụ phẩm trồng trọt bị đốt trực tiếp tại ruộng, 90% người dân thừa nhận bao bì thuốc bảo vệ thực vật (khoảng 0,1 tấn/ngày) chưa được thu gom đúng quy chuẩn. Chất thải rắn xây dựng phát sinh khoảng 22 tấn/ngày với 70% bị đổ thải tùy tiện ven đường hoặc vùng đất trũng. Chất thải rắn công nghiệp đạt 56 tấn/ngày, bùn thải đô thị phát sinh 23 tấn/ngày và chất thải y tế là 1,19 tấn/ngày (trong đó 0,18 tấn là chất thải y tế nguy hại, chiếm 15%).

Thảo luận kết quả

Thực trạng thành phần rác sinh hoạt tại thành phố Hưng Yên có tỷ lệ hữu cơ vượt trội (80,93%) rất phù hợp để trình bày thông qua biểu đồ tròn (Pie Chart) biểu diễn cơ cấu chất thải. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức bình quân 50-60% tại các đô thị lớn như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tương đồng với đặc thù của các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng (nơi mức phát sinh bình quân đạt 0,83 kg/người/ngày). Dữ liệu phân bố các phương thức xử lý chất thải trồng trọt và chăn nuôi cũng có thể được hệ thống hóa trực quan qua các bảng thống kê ma trận để làm rõ tỷ lệ 60% chất thải chăn nuôi được ủ phân, 30% làm biogas và 10% chôn lấp tùy tiện.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng rác thải còn tồn đọng nằm ở sự thiếu hụt phương tiện vận chuyển chuyên dụng và hạ tầng điểm trung chuyển container 10 m³ tại các xã ngoại thành. Việc chưa triển khai phân loại rác tại nguồn khiến 100% rác thu gom phải đưa về bãi chôn lấp tập trung diện tích 12,55 ha tại khu vực giáp ranh phường An Tảo, xã Bảo Khê và xã Trung Nghĩa. Bãi chôn lấp hiện xử lý bằng chế phẩm vi sinh EM với chi phí 76.000 đồng/tấn nhưng đang đối mặt với nguy cơ quá tải ô chôn lấp 1,7 ha và sự cố rách màng chống thấm đáy. Bên cạnh đó, mức thu phí vệ sinh theo Quyết định 09/2010/QĐ-UBND (3.000 đồng/người/tháng tại mặt đường và 2.000 đồng/người/tháng trong ngõ) chỉ bù đắp được khoảng một phần mười chi phí vận hành thực tế của doanh nghiệp môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hưng Yên, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện cơ chế chính sách và biểu phí: Ủy ban nhân dân thành phố Hưng Yên cần ban hành quy định bắt buộc về phân loại rác thải tại nguồn cho hộ gia đình và cơ sở kinh doanh trước năm 2016. Đồng thời, trình Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh mức phí vệ sinh môi trường từ 3.000 đồng lên 6.000 - 8.000 đồng/người/tháng nhằm bù đắp tối thiểu 40-50% chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý thực tế.
  • Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và phương tiện vận chuyển: Đầu tư bổ sung 2 xe cuốn ép rác chuyên dụng tải trọng 5-7 tấn và 10 thùng container kín dung tích 10 m³ bố trí tại 5 xã mới sáp nhập trong giai đoạn 2015 - 2017. Ban Quản lý dự án thành phố cần khẩn trương hoàn thành việc mở rộng 11,397 ha vùng đệm cây xanh cách ly tại khu xử lý rác tập trung, cải tạo hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác đạt quy chuẩn môi trường.
  • Chuyển đổi công nghệ tái chế và xử lý chất thải: Công ty Môi trường và Công trình đô thị thành phố cần hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ môi trường để đầu tư dây chuyền sản xuất phân hữu cơ vi sinh (compost) từ nguồn rác thải thực phẩm chiếm 59,28%, giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 30% vào năm 2020. Thiết lập các trạm trung chuyển nghiền tái chế 22 tấn/ngày chất thải rắn xây dựng làm vật liệu san nền.
  • Tăng cường quản lý chất thải nông nghiệp và làng nghề: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội Nông dân xây dựng bể bê tông thu gom vỏ bao bì hóa chất bảo vệ thực vật tại 100% các cánh đồng lúa và vùng trồng nhãn đặc sản. Phấn đấu đến năm 2018 đạt 100% hộ chăn nuôi quy mô từ 20 con lợn trở lên lắp đặt công trình khí sinh học biogas đạt chuẩn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Quản lý Đô thị và Ủy ban nhân dân 17 xã, phường có thể sử dụng số liệu nghiên cứu để lập quy hoạch mạng lưới 21 điểm tập kết rác, xây dựng lộ trình thu gom và ban hành quy chế xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị.
  • Doanh nghiệp dịch vụ môi trường và đô thị: Ban lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên có thể ứng dụng các phân tích về định mức ca xe, cung đường vận chuyển trung bình 18-23 km và cơ cấu 80,93% chất thải hữu cơ để tối ưu hóa chi phí vận hành bãi chôn lấp và tổ chức các tuyến thu gom rác theo 2 ca làm việc trong ngày hiệu quả hơn.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đô thị và Kỹ thuật Môi trường có thể khai thác bộ dữ liệu điều tra thực địa N = 300 phiếu và hệ thống chỉ tiêu phát thải chất thải rắn đô thị loại III vùng đồng bằng sông Hồng để làm tài liệu đối chiếu cho các công trình nghiên cứu mở rộng.
  • Các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức tự quản tại các thôn xóm có thể tham khảo mô hình thùng xử lý rác hữu cơ hộ gia đình và hố rác di động để triển khai các phong trào phân loại rác thải tại nguồn, giảm thiểu rác thải nhựa (hiện chiếm 10,75%) trong khu dân cư.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình mỗi ngày tại thành phố Hưng Yên là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê của đơn vị dịch vụ môi trường đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và xử lý tại khu xử lý rác tập trung của thành phố đạt khoảng 70 đến 75 tấn/ngày, tương đương với tổng sản lượng thu gom năm 2013 đạt 23.949,2 tấn.

Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hưng Yên có đặc điểm nổi bật nào?
Rác hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 80,93% (riêng rác thực phẩm chiếm 59,28%), rác thải nhựa chiếm 10,75% và rác vô cơ chiếm 8,32%. Thành phần hữu cơ vượt trội này tạo tiềm năng rất lớn để sản xuất phân bón vi sinh compost phục vụ phát triển nông nghiệp địa phương.

Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt giữa khu vực nội thị và ngoại thành chênh lệch ra sao?
Khu vực nội thành đạt tỷ lệ thu gom gần 100% nhờ mạng lưới công nhân quét rác trên 133 tuyến đường phố. Tuy nhiên, tính chung toàn thành phố tỷ lệ thu gom chỉ đạt 85-86% do nhiều ngõ nhỏ xe chuyên dụng chưa tiếp cận được và 4 xã mới sáp nhập chưa hoàn thiện các tổ tự quản.

Chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn thành phố được quản lý và xử lý như thế nào?
Toàn thành phố phát sinh khoảng 1,19 tấn chất thải y tế/ngày, trong đó có 0,18 tấn là chất thải y tế nguy hại (chiếm 15%). Các bệnh viện lớn và phòng khám tư nhân đã ký hợp đồng chuyển giao xử lý với các đơn vị chuyên trách hoặc xử lý tại lò đốt đạt chuẩn.

Mức thu phí vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Hưng Yên tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND, hộ gia đình mặt đường nội thành nộp 3.000 đồng/người/tháng; hộ trong ngõ hẹp và cư dân khu vực nông thôn nộp 2.000 đồng/người/tháng. Mức thu này rất thấp và chưa đáp ứng được chi phí thu gom, xử lý thực tế là 76.000 đồng/tấn rác.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát sinh 70 - 75 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày cùng với chất thải nông nghiệp (250 tấn/ngày), chất thải công nghiệp (56 tấn/ngày) và chất thải y tế (1,19 tấn/ngày) tại thành phố Hưng Yên.
  • Làm rõ đặc trưng thành phần rác thải sinh hoạt với 80,93% là chất hữu cơ dễ phân hủy, khẳng định tiềm năng to lớn trong việc chuyển đổi từ chôn lấp sang công nghệ tái chế ủ phân vi sinh.
  • Chỉ rõ các nút thắt then chốt trong hệ thống quản lý: tỷ lệ thu gom toàn đô thị mới đạt 85-86%, phương tiện thu gom vận chuyển còn thiếu và cũ kỹ với chỉ 3 xe ép rác, đồng thời bãi chôn lấp 12,55 ha đang đứng trước nguy cơ quá tải.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa hạ tầng, áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2015 - 2020.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cấp chính quyền tỉnh Hưng Yên khẩn trương ban hành đề án phân loại rác tại nguồn, nâng cao mức phí dịch vụ vệ sinh và mở rộng mạng lưới thu gom tại các xã ngoại thành nhằm hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững.