CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG 1.Những vấn đề lý luận về chất thải rắn thông thường và xử lý chất thải rắn thông thường 1.1 Khái niệm chất thải rắn thông thường - Khái niệm chất thải: Theo cách hiểu thông thường thì Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác.Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng. Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Khái niệm này đưa ra hai tiêu chí để phân biệt chất thải với vật chất tồn tại dưới dạng khác, đó là Thứ nhất, chất thải tồn tại dưới dạng vật chất; Thứ hai, các vật chất (đồ vật không có giá trị, không có tác dụng và không bị chiếm hữu, sử dụng nữa.Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt Anh định nghĩa “chất thải (watste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”. Theo khái niệm này các yếu tố để phân biệt chất thải, đó là: Thứ nhất, chất thải là vật chất tồn tại dưới dạng rắn, lỏng, khí; Thứ hai, vật chất đó không còn giá trị sử dụng đối với cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó; Thứ ba, phải có biện pháp thải bỏ đối với vật chất đó.
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính 7 trị - kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 và Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày 25/8/1998 của CHLB Đức.
Cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung là “vật chất được xác định là chất thải khi nó nằm trong Phụ lục I của Luật”. Như vậy, cả hai luật này đều quan tâm đến việc đưa vật chất nào và không đưa vật chất nào vào trong Phụ lục của mình. Giả sử có những vật chất chưa được đưa vào Phụ lục nhưng nó lại có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường khi chủ sở hữu thải bỏ thì sẽ được xác định như thế nào, đây là hạn chế mà các nhà làm luật cần phải bổ sung. Hơn nữa, điều này sẽ khó khi áp dụng vào Việt Nam bởi chung ta chưa đảm bảo được yếu tố về mặt kỹ thuật, công nghệ khi xác định các dạng vật chất nằm trong danh mục chất thải thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau.
Pháp luật Việt Nam có quy định khác so với hai văn bản pháp luật trên, pháp luật Việt Nam đã liệt kê cụ thể các dạng vật chất phát sinh trong các hoạt động của con người và tồn tại dưới các dang khác nhau: Khí, lỏng, rắn… khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 1993, khoản 10 Điều 3 Luật BVMT 20052, khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2014 đều đưa ra định nghĩa về chất thải rắn. Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT năm 2015 thì chất thải được định nghĩa như sau: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.Từ những định nghĩa nêu trên, các chất được coi là chất thải khi thoả mãn các điều kiện sau: - Chất thải là vật chất, các yếu tố phi vật chất không thuộc phạm trù chất thải, ví dụ: các mối quan hệ xã hội, yếu tố tinh thần; 2 Lưu Việt Hùng , Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam ( Luận văn thạc sĩ năm 2010) , trang 3 8 - Chất thải được hiểu là các vật chất mà con người thải ra từ nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác3. Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại chất thải thành các nhóm loại khác nhau: Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn (chất thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn… Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải độc hại nguy hiểm và chất thải thông thường. Phụ thuộc vào nguồn sản sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế… Phụ thuộc vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm, đồ vật hư hỏng hoặc quá hạn sử dụng Tùy thuộc vào mức độ nguy hại của chất thải, chất thải được phân laoị thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại - Khái niệm chất thải rắn Theo cách tiếp cận chung nhất, chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa.
Dưới góc độ pháp lý, Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Theo quy định tại Điều 3 Khoản 1 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu) Ví dụ: giấy báo, rác sân vườn, đồ đạc đã sử dụng, bì nhựa, rác sinh hoạt và bất cứ những gì mà con người loại ra môi trường.vn/qt/tintuc/Pages/hoi-dap-phap-luat-bao-ve-moi- truong.aspx?ItemID=174 9 Có nhiều cách phân loại chất thải rắn, ví dụ như phân loại theo nguồn gốc phát sinh, phân loại theo thành phần hóa học, theo tính chất độc hại, theo khả năng công nghệ xử lý và tái chế… Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: Chất thải rắn đô thị: chất thải từ hộ gia đình, chợ, trường học, cơ quan; Chất thải rắn nông nghiệp: rơm rạ, trấu, lõi ngô, bao bì thuốc bảo vệ thực vật; … Phân loại theo thành phần hóa học: Chất thải rắn hữu cơ: chất thải thực phẩm, rau củ quả, phế thải nông nghiệp, chất thải chế biến thức ăn; … Phân loại theo tính chất độc hại: Chất thải rắn thông thường: giấy, vải, thủy tinh; Chất thải rắn nguy hại: chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải nông nghiệp nguy hại, chất thải y tế nguy hại… Phân loại theo công nghệ xử lý hoặc khả năng tái chế: Chất phải phân hủy sinh học, phân thải khó phân hủy sinh học; Chất thải cháy được, chất thải không cháy được; Chất thải tái chế được: kim loại, cao su, giấy, gỗ… Khi tính toán các yếu tố công nghệ cho quá trình xử lý chất thải rắn người ta thường nói đến một số tính chất của nó như tỷ trọng,độ ẩm, độ xốp, kích thước trung bình… Trong trường hợp công nghệ nhiệt phân được lựa chọn người ta còn quan tâm đến các tính chất khác của chất thải như nhiệt trị, nhiệt dung riêng, độ cháy, độ tro, thàn phần cháy4. Mỗi loại chất thải rắn sẽ có khối lượng, nhiệt ẩm, chất trơ, độ trị và thành phần cháy khác nhau. Khi thu gom chất thải rắn, các công ty môi trường sẽ phân loại dựa vào tính chất để dễ dàng xử lý hơn. - Khái niệm chất thải rắn thông thường Như đã trình bày ở trên, nếu phân loại chất thải theo tính chất độc hại của chúng, chất thải gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại.
Dưới 4 http://moitruongviet.vn/chat-thai-ran-va-phan-loai-chat-thai-ran/ 10 góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu có giải thích: Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. Như vậy, để hiểu được rõ hơn về chất thải rắn thông thường thì trước hết tác giả xin được đề cập khái niệm chất thải nguy hại. Thứ nhất, khái niệm chất thải nguy hại: Trên thế giới thì thuật ngữ chất thải nguy hại đã được đề cập đến từ rất lâu. Tuy nhiên, tại các quốc gia khác nhau thì đều có quan điểm khác nhau về thuật ngữ này, chẳng hạn như: Tại Philiphin: Chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat tính,có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật.
Ở Canada: Chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khảnăng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường. Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để lọai bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó. Tác giả cho rằng việc quy định chất thải nguy hại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, các lĩnh vực kinh tế và ý chí của nhà làm luật của từng quốc gia. Tại Việt Nam đứng trước phát triển của các ngành công nghiệp hiện nay, kéo theo đó là sự sản sinh ra nhiều chất thải nguy hại cả về số lượng lẫn chất lượng đòi hỏi nhà nước ta phải đưa ra khái niệm cụ thể của chất thải nguy hại phù hợp với hoàn cảnh đất nước để có những biện pháp xử lý hợp lý.
Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác. Biểu hiện cụ thể các đặc tính của chất thải nguy hại gồm: 11 Một là, có độc tính: Đầu tiên là độc tính cấp, các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da. Độc tính từ từ hoặc mạn tính, các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mạn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da. Sinh khí độc, các chất thải chứa các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đến con người và sinh vật.
Đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.