Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tống quan về cây và trái nhàu 1. Đặc điểm thực vật học và phân bố Cây nhau có tên khoa học của nhàu là Morinda citrifolia L, thuộc ho cà phê Rubiaceae (tiếng anh là Noni), có nơi gọi cây nhàu là cây ngao, nhàu núi, giàu. Cây nhàu là cây ưa sáng, lúc còn nhỏ hơi chịu bóng mát, trong rừng tự nhiên mọc ở rừng thứ sinh, rừng phục hồi sau nương rẫy.
Nhàu tìm thấy ở Châu Á nhiệt đới và châu Đại Dương, có phân bố ở Trung Quốc, Án Độ, Việt Nam. Ở Việt Nam cây nhàu có nhiều ở miền Nam, một số tỉnh ở miền Trung và rải rác ở miền Bắc nước ta. Cây nhàu được tìm thấy mọc hoang nhiều tại miền Nam và Miền Trung là chủ yếu. Có hai loại là nhàu vườn và nhàu núi.
Nhàu cũng là cây được người dân sử dụng làm rau, làm thuốc. Lá nhàu có tính b6 dưỡng thường được nấu canh kho cá, om lươn, hấp cá, gói thịt. Trái, rễ nhàu thường được sử dụng phơi khô, sắc uống, quả ăn tươi chấm muối, ngâm rượu. Cây nhau (noni) cao chừng 6 - 8m, thân nhẫn, thường mọc hoang ở nơi 4m thấp, dọc bờ sông suối.
Cây có nhiều cành to, lá mọc đối hình bầu dục, nhọn ở đầu, dai 12 - 15 cm. Hoa nhàu nở vào thang | - 2, qua chín vào thang 7 - 8. Quả hình trứng, xu xì, dài chừng 5 - 6 cm, khi non có màu xanh nhạt, khi chín có mau trắng hồng, mùi nồng và cay. Ruột quả có một lớp cơm mềm ăn được, chính giữa có một nhân cứng.
Nhân dài khoảng 6 - 7 mm, ngang khoảng 4 - 5 mm, có 2 ngăn chứa 1 hạt nhỏ mềm. Trái nhàu (Hình 1.1) có thể được hái ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, tùy thuộc vào phương pháp chế biến dự định. Trái nhàu được thu hoạch bằng tay hoặc bằng cách hái từng trái từ cành. Chúng được đặt trong giỏ hoặc túi hoặc đặt trong thùng dé vận chuyền đến cơ sở chế biến.
Trái nhàu không dễ bị bằm hoặc hư hỏng, và thường không cần có hộp lót đệm đặc biệt hoặc các biện pháp phòng ngừa khác dé ngăn trái nhàu bị hư hỏng đáng ké. Trái nhàu xanh hoặc vàng chưa chín rất cứng và bền, do đó có kha năng chống hư hỏng bề mặt và bam trong quá trình vận chuyền và xử lý. Trái nhàu ở giai đoạn phát triển này sẽ chín qua đêm hoặc vài ngày ở nhiệt độ phòng và có thé được chế biến lay nước ép ngay sau đó. Hơn nữa, việc phơi trái nhàu dưới ánh nắng trực tiếp hoặc nhiệt độ ấm ngay sau khi thu hoạch không phải là mối quan tâm đáng kể.
Vì vậy, trái nhàu không cần bảo quản lạnh sau khi thu hoạch (Yashaswini và cộng sự, 2014). Trái nhàu cũng có tác dụng loại bỏ độc tố, tăng khả năng hấp thụ, tiêu hoá do có chứa các chất có dược tính và khoáng chất. Ngoài ra trái nhàu còn chứa các chất có hoạt tính sinh học như chống oxy hoá cao, giúp ngăn chặn các gốc tự do trong cơ thé con người. Ngoài ra, không chỉ rễ nhàu, trái nhàu cũng có tác dụng kích thích miễn dịch, chống viêm, giảm đau, hạ huyết áp, bồi dưỡng sức khoẻ và đặc biệt là không có độc tính cấp.
Bên cạnh đó, nhiều công bố cho thấy trái nhàu chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học (với hơn 200 hợp chat) có lợi cho sức khoẻ con người như anthraglycosid, xanthones, flavonoid, tinh dau, axit hữu co, coumarin, triterpenoid, saponin, polyphenol, va alkaloid (Nguyễn Trọng Thông và cộng sự, 2005). Trái nhàu đặc biệt nổi tiếng với các đặc tính trong y học của nó, bao gồm kháng khuẩn, giảm đau, chống sung huyết, chống oxy hóa, chống viêm, làm se da, thuốc nhuận tràng, an thần và giảm trương lực (Potterat và cộng sự, 2007). Thành phần hóa học của trái nhàu Cây nhàu có giá trị dinh dưỡng cao và gần 200 hợp chat phytochemical có hoạt tính sinh học đã được xác định và phân lập từ các bộ phận khác nhau của cây (Inada và cộng sự, 2017). Điều quan trọng là thành phần sinh hóa của các hợp chất này khác nhau hoàn toàn không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn liên quan đến nơi xuất xứ và thời kỳ thu hoạch (Chan-Blanco và cộng sự, 2006; Deng và cộng sự, 2010).
Có nhiều hợp chất hóa học được tìm thấy trong trai nhau, trong đó có kề đến như beta-carotence, canxi, axít linoleic, magie, kali, protein, các vitamin nhóm B va những chất chống oxi hóa như vitamin C. Ngoài ra, trái nhàu có chứa hợp chất prexonine. Hợp chất này khi được kết hợp với enzyme prexoronase (có trong dạ dày) sẽ tạo thành chất xeronine, chất này kết hợp với protein có khả năng sản xuất năng lượng và giúp tế bào phát triển khỏe mạnh. Các báo cáo thử nghiệm về xác định thành phần dinh dưỡng của cây nhàu cho thấy trái nhàu chín có khoảng 90% nước và 10% chất khô.
Chất khô chủ yếu bao gồm các chất ran hòa tan, trong đó 5% là đường khử (fructose va glucose) và 1,3% là sucrose, phần còn lại của chất ran hòa tan bao gồm protein va chat xơ (Motshakeri và cộng sự, 2015). Theo Malik và cộng sự (2009) trong 100g mau bột trái nhàu bao gồm khoảng 71% carbohydrate, 36% chất xơ và 5,2% protein. Các nhóm hợp chất hoạt tính sinh học khác trong nhàu đã được báo cáo, bao gồm axit, rượu, phenol, saccharide, anthraquinon, carotenoid, este, triterpenes, flavonoid, glycoside, lacton, iridoids, xeton, lignans, nucleoside, sterol,. Trong đó, có 3 nhóm chính là polyphenol, flavonoid va triterpennoid saponin.
Polyphenol Polyphenol được biết đến như một sản phẩm phụ của thực vat và chất chống oxy hóa, và các polyphenol chính trong trái nhàu bao gồm damnacanthal, scopoletin, morindone và alizarin, aucubin, nordamnacanthal, v.v, góp phân vào các hoạt động dược lý khác nhau của trái nhàu (Chan-Blanco và cộng sự, 2006; Kim và cộng sự, 2017). Ngoài ra, theo Kim và cộng sự (2017) đã đo hàm lượng polyphenol bằng cách chiết xuất trái nhàu được trồng ở sáu khu vực sản xuất, với kết quả dao động là 0,76 -1,67 mg/ml. Các hợp chất phenolic là các chất chuyên hóa thứ cấp trong thực vật và được chia thành axít phenolic và polyphenol. Ngày nay, hơn 4000 phenolic hóa chất thực vật đã được xác định (Morris và cộng sự, 2004).
Các phân tử này có thể là được phát hiện kết hợp với mono và polysaccharid, được kết nối với một hoặc nhiều nhóm phenolic, hoặc dưới dạng dẫn xuất như este hoặc metyl este. Axit phenolic, flavonoid va tannin được coi là các lớp hợp chat phenolic quan trong nhất được tìm thấy trong chế độ ăn uống của con người. Trái cây và đồ uống như trà, rượu vang đỏ và cà phê là nguồn polyphenol tốt nhất, tuy nhiên, rau, cây họ đậu và ngũ cốc là cũng là những nguồn tốt. Các hợp chất phenolic chịu trách nhiệm một phần về cảm quan và phẩm chất dinh dưỡng của thức ăn thực vật.
Vì chúng là thành phần quan trọng tạo nên chất lượng trái cây vì chúng đóng góp vào hương vị, màu sắc và các đặc tính dinh dưỡng của trái cây (Cheynier, 2005). Flavonoid Theo Singh va cộng sự (2013) đã bao cáo sự khác biệt đáng kê của flavonoid trong các bộ phận khác nhau của cây nhàu. Theo nghiên cứu, lượng flavonoid dao động từ 190,0- 321,4 mg/100 g; lượng cao nhất được tìm thay ở rễ và thấp nhất ở trái chín. Theo Yang và cộng sự (2011) nhận thấy rằng tổng hàm lượng các hợp chất phenolic, tiềm năng chống oxy hóa và hàm lượng axít ascorbic trong trái nhàu tăng khi chuyển từ giai đoạn xanh sang màu trang cứng (từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn thứ ba, Hình 1.2) và giảm dần khi quả càng chin.
Cụ thể, so với trái chín, trái nhàu trắng cứng có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn 1,2-2,2 lần, tổng hàm lượng phenolic cao hơn 1,5 lần và hàm lượng axit ascorbic cao hơn 7,0 lần, trong khi trái nhàu xanh non có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn 1,1-1,5 lần, tổng số hàm lượng phenol cao hon 1,3 lần va hàm lượng axít ascorbic cao hơn 1,3 lần. Khoáng chất chiếm khoảng 8,4% chất khô của trái nhàu, và có thé thay đổi tùy theo mức độ chín của trái, điều kiện trồng và sau thu hoạch (Chan-Blanco và cộng sự, 2006). Theo mô tả của Rybak và cộng sự (2013) cho thấy dấu vết mangan, molypden, đồng và coban. West và cộng sự (2011) phát hiện kali là khoáng chất phong phú nhất trong trái nhàu, khoảng 214,34 mg/ 100 g.
Các khoáng chất khác như canxi, sắt, natri và selen cũng đã được xác định, và loại khoáng chất nay cung cấp tới 26% liều khuyến cáo hàng ngày cho người lớn. Vitamin cũng đã được báo cáo trong các nghiên cứu liên quan đến trái nhàu. Vitamin C có nhiều nhất trong trái cây, dao động từ 24 đến 158 mg/ 100 g chất khô (Chan-Blanco và cộng su, 2006). Lượng vitamin C có trong trai nhàu xay nhuyễn là khoảng 1,13 mg/ g trái nhàu, tương ứng với 250% nhu cầu vitamin C hàng ngày được khuyến nghị cho người lớn (West và cộng sự, 2011).
Triterpenoid Saponin Triterpenoid saponin là một loại hợp chat có hoạt tinh sinh học phổ biến được tìm thấy trong nhiều chủng loại thực vật. Triterpenoid saponin bao gồm các aglycones triterpenoid ky nước được gọi là sapogenin và một hoặc nhiều thành phan đường ưa nước (Sawai và Saito, 2011). Các loại đường có thể chứa glucose, galactose, rhamnose, methyl pentose, axít glucuronic hoặc xylose, trong khi phần aglycone có thể là steroid hoặc triterpene (Desai và cộng sự, 2009). Các triterpenoid saponin thực vật được coi là hợp chất bảo vệ chống lại vi khuẩn gây bệnh và động vật ăn cỏ (AE, 1996; Szakiel và cộng sự, 2011).
Những triterpenoid saponin nay cũng có những đặc tính có lợi cho con người. Triterpenoid saponin bản chất lưỡng tính cho phép chúng hoạt động như chất hoạt động bề mặt và tương tác với tế bào các thành phần màng như cholesterol và phospholipid, có khả năng làm cho chúng có giá trị trong sản xuất mỹ phẩm và được phẩm. Triterpenoid saponin có một số tác dụng điều trị, chăng hạn như giảm mức cholesterol trong huyết tương ở người, tác dụng chống ung thư, tác dụng ức chế sự lây nhiễm HIV trong ống nghiệm, hoạt tính chống oxy hóa, và bảo vệ chống lại tổn thương gan. Công dụng của trái nhàu Trước đây nhân dân ta cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới như Campuchia, Philippin, An độ.
đã biết sử dụng một số bộ phận cây nhàu dé làm thuốc.