Chương 1. Tổng quan arabinose) hoặc disaccharides (ví dụ như D-galactose-L-fucose). Xyloglucans được phân thành 2 loại: loại poly-XXXG và loại poly-XXGG tùy thuộc vào mức độ thay thé mach glucan với D-xylosyl [21]. Gan đây, Hilz et al.
(2007) tìm thấy chuỗi bên ơ-D-xylosyl-(1,4)- B-D-xylosyl của xyloglucan trong qua việt quất. Xylans đại diện cho một loại khác của hemicellulose trong màng tế bào và có mạch bao gồm liên kết (1. Đoạn xylosyl trong mạch xuất hiện trong monocotyles (ngũ cốc và các loại cỏ) có thé được thay thé bởi L-arabinosyl, D-glucuronosyl (hoặc dẫn xuất 4-O-methyl) và các nhóm acetyl [38]. Ở cây hai lá mầm (Thân gỗ và thân thảo) mức độ acetyl hóa cao, có tính axit (O-methyl) glucuronoxylans gần như không thấy có bất kỳ arabinose thay thế nào.
Pectin là thành phần quan trọng của mang tế bào thực vật và cau trúc phân tử phức tạp nhất trong tự nhiên [56]. Pectin gồm 17 monosacarit khác nhau được sắp xếp từ các cau trúc cơ bản dạng khối trong mang pectin trong hình 1. Mạch pectin có thể được phân loại thành ba nhóm dựa trên các yếu t6 trên: homogalacturonan, đoạn thay thé galacturonan và rhamnogalacturonan. Mức độ mety] este hóa (DM) trong HG có thể phân loại pectin thành 2 loại chính: pectin có DM cao (hơn 50%) và pectin có DM thấp và có ảnh hưởng mạnh đến chức năng của pectin [57].
Mỗi đoạn HG có liên kết ngang và tham gia vào việc hình thành mạng không gian ba chiều, gel pectin, có vai trò quan trọng trong kiểm soát độ xốp và các đặc tính cơ học của mảng tế bảo và góp phân duy trì độ bám dính gian bảo [14]. Đặc tính tạo gel của pectin bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tổ khác nhau chăng hạn như: loại pectin, nguồn gốc của pectin, mức độ tham gia của nhóm methyl ester và các nhóm acetyl. Este methyl có thể tham gia hoặc là ngẫu nhiên hoặc là khóa các đoạn HG có tác động mạn lên liên kết canxi của pectin. Ngoài ra, một phần HG bị O-acetyl hóa ở vị trí O- 2 hoặc O-3 của nhóm D-galacturonosyl như pectin của củ cải đường xuất hiện của các nhóm acetyl có ảnh hưởng xấu đến quá trình tạo gel [18].
HG tạo phân nhánh với duy nhất với B-D-xylose hoặc chuỗi liên kết 1,2-B-D-xylose dài hơn hoặc chuỗi liên kết 1,4 -B-D-xylose tai vị trí O-2 và O-3 của D-galacturonosyl gọi là Trang 9 Chương 1. Tổng quan xylogalacturonan (XGA) [48]. Giống như HG, một phan của D-galacturonosyl trong XGA bi este methyl hóa. Nhiéu RG I mét phan O-acety] hóa tại vi trí O-2 hoặc O-3 của nhóm D-galacturonosyl nhưng cho đến nay không có bằng chứng nào về sự xuất hiện của metyl este hóa nhóm D-galacturonosyl trong mach RGI [28].
Khoảng 20-80% của tất cả các nhóm L-rhamnosyl tạo nhánh tại vi trí O-4 với liên kết (1, 4)-B-galactan [24], liên kết (1,5)-a- arabinan hoặc tạo nhánh arabinans [45] tùy thuộc vào nguồn gốc và mô thực vật. Bên cạnh đó, arabinogalactan loại I (AGI) va arabinogalactan loại II (AG II) xuất hiện như là chuỗi bên của RG I. AG I tạo thành từ liên kết (1, 4)-B-galactan với liên kết œ-L-arabinofuranosyl tại vị trí O-3 của D- galactosyl. AG II là một polymer phân nhánh tạo thành từ liên kết (1.3)-B-D- galactosyl chứa chuỗi bên a-L-Araf-(1 — 6) - [B-D-Galp-(1 > 6)]n (n = 1,2 hoặc 3).
- Rhamnogalacturonan II là một thành phần có cau trúc đặc biệt của pectin, trong đó có một cau trúc bảo tồn cao và được tìm thay trong nhiều loài thực vật khác nhau [40]. Rhamnogalacturonan II có liên kết cộng hóa trị với HG [40] và bao gồm 12 loại đường khác nhau với một vài loại đường đặc biệt tạo thành mộ chuỗi như: apiose, axit aceric, axit 3-deoxy-D-lyxo-2-heptulosaric (DHA) và axit 2-keto-3- deoxy-D-Manno-octulosonic (DKO). RG II tao từ liên kết (1,4)-a-D-galacturonosy1 được bao tồn tốt nhưng không có liên kết ở chuỗi bên khác nhau. Cau trúc mach polysaccharide của đậu bắp Các nghiên cứu trước đó về các thành phân và tính chất của polysaccharides đậu bap đã được nêu ra [13].
Các công trình khác nhau đã trình bày thành phan khác nhau của các polysaccharides, có lẽ hầu hết do sự khác biệt trong quá trình và sử dụng giống đậu bắp khác nhau. Whistler và Conrad (1954) cho thấy đậu bắp từ miền nam Hoa Kỳ chứa polysaccharide có tính axit bao gồm các loại đường chính: galactose, rhamnose và acid galacturonic. Gần đây, Lengsfeld et al. (2004) và Deters et al.
(2005) cho rang polysaccharide đậu bap từ một nhà cung cấp thương mại ở Đức cũng chứa glucose Trang 10 Chương 1. Tổng quan và nhóm glucuronosyl. Ngoài ra, Agarwal et al. (2001) tìm thay axit galacturonic trong polysaccharides đậu bắp từ An Độ có cau tạo dạng L.
Polysaccharides của đậu bắp trồng ở Nhật, trích ly bằng nước lạnh và tinh chế bằng cách sử dụng tác nhân tao phức càng cua 10% cho thấy có một chuỗi lặp của liên kết (1,2)-a-rhamnosyl, liên kết (1,4)-œ-galacturonosyl và liên kết chuỗi bên đối xứng (1,4)-B- galactan được thay thé tại vị trí O-4 của một nửa của nhóm rhamnosy! [32]. Điều này chứng minh rằng pectin bị acetyl hóa (5,5% theo trọng lượng) và chứa khoảng 12% protein. Tuy nhiên, vi trí chính xác của các nhóm acetyl trong pectin không được nhắc đến. Một phân đoạn khác nữa của pectic polysaccharides trích ly bang nước từ vỏ quả đậu bắp hạt đã được thực hiện bởi Lengsfeld et al.
(2004) băng cách sử dụng sắc ký trao đối anion cho thay mật độ cau trúc galacturonan khá tinh khiết. Thông tin liên quan đến các polysaccharides khác như hemicelluloses vẫn chưa rõ ràng. Từ các dữ liệu về thành phan liên kết, chúng tôi chỉ đưa ra một vài kết luận từ pectin đậu bắp 1. Tinh chất chức năng của pectins Pectin được sử dụng rộng rãi như: tạo gel, chất 6n định hoặc tác nhân làm dày trong nhiều sản phẩm thực phẩm như mứt, sữa chua uống, sữa trái cây và kem [32].
Độ nhớt của dung dich polysaccharide phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trọng lượng phân tử, thể tích động lực học, độ cứng điện tích phân tử [59]. Các polyme có trọng lượng và cầu trúc hóa học tương tự mang điện tích nói chung có độ nhớt cao hơn polyme không tích điện do lực day tĩnh điện giữa các phân tử. Mặc dù pectin có nhóm carboxy] tự do trên mạch và tác động như một chất đa điện ly [57] nhưng pectin không được sử dụng thường xuyên như một chất làm đặc bởi vì dung dịch pectin có độ nhớt tương đối thấp khi so sánh với polymer sinh học khác ở nông độ tương tự. Độ nhớt của dung dich pectin phụ thuộc vào tính chất hóa lý của pectin, cường độ ion của dung dịch [42| và sự có mặt của đường [16].
Các vùng khác nhau của gel tan nước thường được hình thành thông qua sự tương tác vật lý như liên kết hydro, liên kết ky nước và cation trung gian qua liên kết ngang [59]. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rang tính chất gel của gel pectin phụ thuộc mạnh vảo tính chất phân tử của polyme. Các tính chất gel của pectin bị ảnh Trang 11 Chương 1. Tổng quan hưởng bởi trọng lượng phân tử pectin, chiều dải của các chuỗi bên pectin, mức độ và vi tri của metyl este hóa và mức độ của acetyl hóa.
Ví dụ, Schmelter et al. (2002) cho rằng pectin với chuỗi bên ngăn hơn cho tính chất gel tốt hơn so với pectin với chuỗi bên dai hơn. Hơn nữa, các mô hình của este hóa, ester nguyên khối hoặc ngẫu nhiên, có tác động lớn trên những đặc điểm gel [58] enzyme loại bỏ nhóm acetyl như hiện nay trong pectin củ cải đường dẫn đến cải thiện tính chất gel tạo nhiều gel cứng [41]. Tính chất chức năng của polysaccharide đậu bap Dung dịch polysaccharides đậu bắp đã được tìm thấy như chất giả dẻo và khả năng tiết nhớt [13].
Baht và Tharathan (1987) phát hiện ra rằng độ nhớt của polysaccharides đậu bắp trích ly bang nước cho thấy độ nhớt tối đa trong khoảng pH từ 4-6. Độ nhớt của polysaccharides đậu bắp giảm khi thêm glucose va sucrose (5- 40%) và muối hóa trị 2 (0,1-10% CaC]› và MgSOa), trái lại với độ nhớt tăng nhẹ sau khi bố sung maltodextrin và 0,1-10 % của các muối đơn hóa trị (NaCl va KCl). Hon nữa, độ nhớt của dung dịch polysaccharide đậu bắp tăng mạnh với gia tăng nông độ. Woolfe et al (1997) báo cáo răng gia nhiệt dung dịch polysaccharide đậu bắp đến 90°C dẫn đến giảm độ nhớt trong khi làm mát dung dich trở lại nhiệt độ phòng gây ra tăng độ nhớt.
Pectin Đậu bắp thường tạo gel ở nồng độ tương đối thấp ( nồng độ 6g/1) [60], trong khi gia nhiệt polysaccharides đậu bắp ở 60°C trong 30 phút sau đó làm mát ở 4°C trong 24 giờ tạo thành dang gel 6n định [11]. Ngoài ra, tác động cộng hợp đã được tim thay khi polysaccharide đậu bắp được trộn với Xanthan Gum không đưa ra bat kỳ tác dung cộng hop [11]. Polysaccharide đậu bắp có tinh chất bôi tron không bình thường va có thé dé tạo thành một lớp phủ bên bi trên da mà rất khó khăn dé loại bỏ bang cách rửa [13]. Đặc tính bôi trơn cũng là tính chất quan trọng giống như tính bôi trơn của chất béo [22] và polysaccharides đậu bắp có thể được sử dụng thay thế chất béo trong nhiều sản phẩm như các thanh sô cô la và cookie.
Nhiều đặc tính chất lượng của các cookie không có chất béo so sánh với những cookie day đủ chất béo [46]. Tương tự như vậy, polysaccharide đậu bắp cũng được sử dụng như là một chất thay thế sữa giàu béo Trang 12 Chương 1. Tổng quan trong món tráng miệng sô cô la sữa đông lạnh, mức độ thay thế đến 70% trong khi các điểm nóng chảy sản phẩm không thay đôi, mặc dù tỷ lệ tan chảy giảm nhẹ [18]. Polysaccharides đậu bắp cũng tao bọt (Baht và Tharathan, 1987) và 6n định nhũ tương [13].
Polysaccharides đậu bắp hoạt động giống như lòng trắng trứng ở nông độ cao hơn có thé tạo thành và ôn định bọt, do đó, polysaccharides đậu bắp cũng được sử dụng như là một thay thế lòng trăng trứng khô [60]. Quá trình sấy đối lưu [2], [5], [7], [36] 1. Động lực quá trình sấy Định nghĩa: sấy là quá trình làm bốc hơi nước ra khỏi vật liệu bằng nhiệt. Động lực của quá trình sấy: chênh lệch âm tại cùng tâm vật liệu và bề mặt vật liệu, chênh lệch áp suất của hơi nước trên bề mặt vật liệu với tác nhân say.
Qua trình bay hoi từ vat liệu thường có hai giai đoạn. - _ Giai đoạn 1: âm trên bề mặt vật liệu bay hơi vào môi trường chung quanh, tốc độ của quá trình phụ thuộc vảo áp suất riêng phần của môi trường chung quanh và áp suất hơi nước trên bề mặt vật liệu, nhiệt độ và tốc độ chuyển động của môi trường.