Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về bệnh Ehrlichia canis Ehrlichia canis là vi khuẩn nhỏ với một nhiễm sắc thé hình tròn đơn Gram âm ký sinh nội bào bắt buộc trong các bạch cầu mono và đại thực bào có vector truyền lây là ve chó nâu Rhipicephalus sanguineus gây ra bệnh Canine monocytic ehrlichiosis (CME) được Donatien va Lestoquar công nhận lần đầu tiên vào năm 1935 (Bretischwerdt, 1995). Nhưng sự quan tâm đến căn bệnh này đã tăng lên vào cuối năm 1960 sau khi bùng phát bệnh Ehrlichiosis ở dạng cấp tính với tỷ lệ tử vong cao xuất hiện ở những con chó làm việc cho Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Rikihisa, 1991) và từ đó đã được báo cáo ở chó trên diện rộng về mặt địa lý (Bretischwerdt, 1995) nhưng đa số ở những nước có khí hậu nóng, âm. Nuôi cấy Ehrlichia canis trong bach cầu đơn nhân của chó ở giai đoạn cấp tính đã từng được báo cáo 40 năm trước (Nyindo và ctv, 1971). Ehrlichia canis được xem là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh CME ở chó (Nazari va ctv, 2013).
Ehrlichia canis có thê nhiễm kép với Anaplasma trên chó.1 Vector truyền lây Ve nâu Rhipicephalus sanguineus thuộc họ Ixodidae được biết là vật trung gian lây truyền Ehrlichia canis (Gray va ctv, 2013). Trong cơ thé của ve Ehrlichia canis nhân lên bên trong không bào tế bào biểu mô cũng như bên trong các tế bao tuyến nước bọt (Mathew và ctv, 1997), bọ ve truyền lay Ehrlichia canis bang cach hut mau của những con chó bị nhiễm bệnh Canine monocytic ehrlichiosis và truyền bệnh cho những con chó khỏe. Sau đó Ehrlichia canis sẽ tan công các cơ quan của cơ thể như lách, gan, tủy xương, hạch bạch huyết (Rikihisa, 1991). Nếu ve còn trong giai đoạn ấu trùng thì ve sẽ vẫn giữ lại mầm bệnh trong cơ thê và sẽ truyền mầm bệnh qua vật chủ qua hai giai đoạn kế tiếp.
MOULTING AND OVIPOSITION Hình 1. Vòng đời Rhipicephalus sanguineus (Nguồn: Barker va Walker, 2014) Vòng đời chung của ve Rhipicephalus sanguineus tiễn trién qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thiếu trùng và ve trưởng thành. Tất cả các giai đoạn của Rhipicephalus sanguineus đều hút máu động vat. Ve luôn đẻ trứng dưới đất chỉ một lần liên tục trong nhiều ngày sau đó chết, những ấu trùng nở ra sẽ bám lên cơ thể vật chủ.
Sau khi hút máu sẽ rơi xuống đất phát triển thành thiếu trùng. Thiếu trùng từ mặt đất sẽ tiếp tục bò lên ký chủ thứ hai hút máu sau đó rơi xuống đất phát triển thành ve trưởng thành. Ve trưởng thành sẽ lên ký chủ thứ ba hút máu rồi thụ tinh. Cuối cùng ve cái sẽ rơi xuống đất đẻ trứng (Lê Hữu Khương, 2012) Hình 1.
Đặc điểm hình thái của chi Rhipicephalus, (A) cái và đực ở lưng, (B) cái và đực ở bụng.2 Phân loại và một số đặc tinh sinh học của Ehrlichia canis 1.1 Phân loại Giới: Bacteria Ngành: Proteobacteria Lớp: Alphaproteobacteria Bộ: Rickettsiales Ho: Scientific classificati Chi: Ehrlichia Loài: Ehrlichia. canis (Donatien và Lestoquard, 1935) Trước day, Ehrlichia spp thuộc ho Rickettsiaceae (Moulder, 1974) Ehrlichia canis hiện được biết đến bao gồm các loài Ehrlichia chaffeensis, Ehrlichia canis gây nhiễm trùng bạch cầu đơn nhân (Buller và ctv, 1999; Anderson và ctv, 1992; Dawson va ctv, 1991), Ehrlichia ewingii gây nhiễm trùng bạch cầu đơn nhân (Buller va ctv, 1999; Anderson ctv, 1992; Dawson và ctv, 1991), Ehrlichia muris chưa được xác định va Ehrlichia ruminantium. Nghiên cứu nay chi thực hiện dé xác định loài Ehrlichia canis gây bệnh trên chó.2 Đặc điểm sinh học của Ehrlichia canis Ehrlichia canis là một loài vi khuân ơ-proteobacterium thuộc bộ Rickettsiales có kích thước nhỏ với một nhiễm sắc thé hình tròn đơn, ký sinh nội bào bắt buộc, hình que Gram âm. Giải trình tự bộ gen hoàn chỉnh cho thay Ehrlichia canis có kích thước 1.
Ehrlichia canis mau phết máu (Nguồn: Patra va ctv, 2018) epidermis dermis feeding lesion capillary Hình 1. Đặc điểm bọ ve, cách thức truyền lây (Nguồn: Barker và Walker, 2003) Quá trình xâm nhập của Ehrlichia canis bắt đầu diễn ra sau khi ve cắn, Ehrlichia canis từ nước bọt của ve vào dòng máu của vật chủ di đến tan công vào các bạch cầu đơn nhân và đại thực bào. Có thể khiến vật chủ không có triệu chứng trong nhiều tháng trước khi phát triển bệnh Ehrlichiosis. Thông thường, một bạch cầu đơn nhân bị nhiễm thường chứa một đến hai phôi dâu.
Về mặt lâm sàng nhiễm Ehrlichia canis tiên triển theo 3 giai đoạn cấp tính, mãn tính, cận lâm sàng (Harrus và ctv, 1997; Neer, 1998). Ehrlichia canis xâm nhập va phat triển bằng cách vào dòng máu, hệ thong bach huyết và tế bào đơn nhân của gan, lách, hạch bạch huyết nơi Ehrlichia canis có thé phat triển (Harrus va ctv, 1997). Lach được coi là đóng vai trò quan trong trong quá trình sinh bệnh. Ehrlichia canis có thé lây lan các tế bào mới bằng cách pha vỡ màng tế bào vào giai đoạn cuối của quá trình hình thành phôi dâu và lan truyền khắp co thê.
Trong giai đoạn mãn tinh Ehrlichia canis sẽ tân công vào tủy sống gây rối loạn chức năng, gây thiêu máu. Chu ky tăng trưởng của E. canis trong một tế bao bi nhiễm bệnh (Forbes và ctv, 1998) Thành tế bào E.canis thiếu peptidoglycan va lipopolysaccharide sẽ góp phan vào khả năng chống lại phản ứng miễm dịch của chó. Việc thiếu hai vật liệu này làm giảm độ cứng của thành tế bào, cho phép bề ngoài của thành tế bào trở nên năng động, từ đó tạo điều kiện cho các tế bào E.canis trỗn tránh kháng thể trong cơ thể vật chủ của nó.
Cấu trúc bên trong tế bào E.canis ít phức tạp , cho phép tông hợp đường, vi thế nó sử dụng axit amin làm nguồn năng lượng, khi lẫn trốn bên trong mà vẫn phát huy tác động sinh học. Vì thế , mặc dù thiếu nguồn cung năng lượng từ vật chủ nhưng nó vẫn phát triển, đồng thời vừa lẫn tránh kháng thé vật chủ.1 Triệu chứng lâm sàng Quá trình của triệu chứng do Ehrlichia canis diễn ra sau thời gian ủ bệnh từ 8 đến 20 ngày chia thành 3 giai đoạn tuần tự là cấp tính (2- 4 tuần), cận lâm sàng (vài tháng đến vài năm) và mãn tính (Mylonakis và ctv, 2017). Giai đoạn cấp tính: sụt cân, biếng ăn, sốt, nôn mữa, stress, xuất huyết dưới da, khó thở, ton thương ở mắt như viêm võng mạc, bong võng mạc hoặc viêm màng bồ đào trước, hạch to, lách to (Mylonakis và ctv, 2017). Giai đoạn mãn tính: những dấu hiệu ban đầu của giai đoạn cấp tính thường có diễn biến nhẹ không rõ ràng bao gồm chảy máu cam, sụt cân, suy nhược, xuất huyết điểm, phù ngoại vi đặc biệt là chi sau, xuất huyết giác mạc, tồn thương mat.
Tén thương thần kinh giống giai đoạn cấp nhưng nặng hơn có liên quan đến viêm mạch. Gây tử vong trên chó thường do kết quả của sự xuất huyết rộng rãi. Đặc trưng trong giai đoạn này là bất sản tủy xương (Mylonakis và ctv, 2017). Triệu chứng ở mắt: Ehrlichia canis có thể gây mù đột ngột do tăng lưu lượng máu đến mắt, xuất huyết tiền phòng, bong tróc võng mạc và gây chảy máu.
Triệu chứng tim mach Một số nghiên cứu cho thay Ehrlichia canis có tac động gây ton thương cơ tim ở thể cấp tính.2 Triệu chứng cận lâm sàng Thay đổi điển hình của huyết học bao gồm giảm bach cau, thiếu máu nhẹ, giảm tiêu cầu mức độ vừa cho đến nghiêm trọng. Trong giai đoạn cận lâm sàng thì sự thay đổi rõ rệt nhất là sự suy giảm tiểu cầu. Một số ít trường hợp được ghi nhận có sự suy giảm bạch cầu, hematocrit và hemoglobin. Chỉ tiêu xét nghiệm huyết thanh học cho thấy có sự gia tăng của protein máu, tăng globulin, giảm albumine, tăng lượng alkaline phosphate (ALP) và tăng alanine aminotransferase (ALT).
Giai đoạn cap tính không được điều trị triệt để sẽ dẫn đến thể mãn tính.1 Bệnh tích đại thể: Sự xuất hiện các đốm xuất huyết bên ngoài có thé quan sát như trên niêm mạc và da là thường thấy đối với chó bị nhiễm Ehrlichia canis. Bệnh tích đại thé có thé tìm thấy được ở nhiều hệ thống cơ quan được kiểm tra trên cơ thể của chó bao gồm hạch sung to, gan và lách phì đại trong thé cấp tính. Trong giai đoạn cấp tính tủy xương tăng sinh, có màu đỏ sau đó giảm và mỡ xâm lấn nhạt màu dan trong giai đoạn mãn tính. Trong bệnh Canine monocytic ehrlichiosis những đốm xuất huyết trên bề mặt này là kết qua của việc rối loạn chức năng tiểu cầu và giảm tiểu cầu.
Niém mạc dương vật nhợt nhạt, đốm xuất huyết ở chó có liên quan đến CME giảm tiểu cầu (Mylonakis và ctv, 2017) Hình 1. Xuât huyệt kêt mac và viêm màng bô dao trước ở chó mac Canine monocytic ehrlichiosis (Mylonakis va ctv, 2017) 11 Hình 1. Bệnh xuất huyết màng cứng ở chó mắc Canine monocytic ehrlichiosis (Mylonakis va ctv, 2017) Trên bề mặt tim và nội tâm mạc có nhiều 6 xuất huyết, cả hai la phối có các vết lõm thay đổi phù nề. Lach to là bệnh tích thường thấy trong nhiễm Ehrlichia canis.2 Bệnh tích vi thể Bệnh tích mắt bao gồm xuất huyết, tụ huyết giác mạc, phù nề giác mạc, viêm màng bồ đào và xuất huyết được ghi nhận ở trường hợp nhiễm Ehrlichia canis.
Những ton thương mang não thường phát hiện hầu hết trên chó. Viêm cầu thận thường hiếm gặp ở chó nhiễm Ehrlichia canis.6 Chan đoán Ehrlichia canis: Chan đoán xác định Ehrlichia canis dựa vào tiền sử bệnh của chó, như có có nhiễm ve. Qua sàng lọc lâm sàng, chỉ số huyết học và bệnh tích của chó. Bằng cách xác định phôi dâu trong bach cầu đơn nhân, kháng thé với Ehrlichia canis, ELISA, PCR.
Phương pháp PCR là phương pháp nhạy để phát hiện mầm bệnh nhiễm Ehrlichia canis ở chó trong khoảng từ 4 đến 10 ngày sau gây nhiễm.7 Điều trị Ehrlichia canis Imidocarb dipropionate được sử dụng nhiều năm trong điều trị CME. Mặc dù ban đầu Imidocarb dipropionate được cho là hiệu quả điều trị CME và cho thấy có sự thuyên giảm về các dấu hiệu lâm sang (Matthewman và cộng su, 1994; Sainz và cộng sự, 2000). Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy Imidocarb dipropionate không hiệu quả trong việc phục hồi hoặc loại bỏ E. Vì vậy, Imidocarb dipropionate không còn được chỉ định trong điều trị CME, ngoại trừ trường hợp đồng nhiễm như Babesia canis (Sainz và cộng sự, 2000).
Theo Mylonakis và cộng sự, doxycycline (5mg/ kg, hai lần mỗi ngày hoặc 10 mg/ kg một lần mỗi ngày, PO, trong 3- 4 tuần) như là phương pháp điều trị đầu tiên trong CME dựa trên đánh giá quá trình thử nghiệm điều trị và thử nghiệm trên lâm sàng. Trong những trường hợp cấp tính do Ehrlichia canis gây ra thì doxycyline được chứng minh là hiệu quả điều trị nhiễm trùng (Gal và ctv, 2007).