Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tông quan về giống gà công nghiệp Ross 308 1. Giống gà Ross 308 Giống gà Ross 308 có nguồn gốc từ Anh và được phát triển bởi tập đoàn Aviagen. Đây là giống gà chuyên thịt có năng suất cao trên thế giới với thời gian nuôi ngắn, tăng trưởng nhanh và hệ số tiêu tốn thức ăn thấp.
Ở Việt Nam, giống gà Ross 308 thường được nuôi với quy mô công nghiệp với mật độ cao, có thể xuất bán sau 38 - 42 ngày nuôi với khối lượng khoảng 2,9 kg, FCR khoảng 1,6 (Aviagen, 2018). Đây là giống có tỷ lệ sông cao trên 97 % và có khả năng thích nghỉ tốt với điều kiện môi trường. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của gà thịt Năng suất sản xuất của gà thịt bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, các yếu tô chính ảnh hưởng đến năng suất như các yếu tô di truyền cá thé, giống, chế độ dinh dưỡng và điêu kiện ngoại cảnh. Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng sản xuất thịt.
Gia cầm muốn có chất lượng thịt tốt thì phải đảm bảo một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bang chất dinh dưỡng theo nhu cầu của từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, các acid amin, khoáng và vitamin. Nếu thức ăn có chất lượng kém hoặc quá trình bảo quan không tốt (nhiễm độc tổ nắm mốc, kim loại nặng, côn trùng phá hoại, .) cũng ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm (Nguyén Thi Mai và ctv, 2009). Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ 4m, ánh sáng.
ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và năng suất của gà thịt. Nhiệt độ khuyến cáo phù hợp cho gà thịt là 18 — 24 °C. Ở gà thịt, nhiệt thoát ra khoảng 46 % qua da, 54 % qua hơi thở. Nhiệt độ môi trường cao hay thấp hơn khuyến cáo sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn từ đó làm giảm năng suất và chất lượng quay thịt (Gussem và ctv, 2016).
Liên quan chặt chẽ với nhiệt độ là độ am không khí cua chuồng nuôi. Theo Gussem va ctv (2016), độ 4m thích hợp từ 50 — 70 %. Độ am thấp sẽ làm lượng bụi trong chuồng nuôi tăng lên, dé phát sinh bệnh đường hô hấp. Ngược lại, độ 4m cao là điều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây bệnh phát triển.
Cần có hệ thông thông gió tốt dé tăng độ thông thoáng của chuồng nuôi, hút mùi, khí độc và bụi từ trong chuông ra ngoài. Mặt khác, độ 4m cao kết hợp với nhiệt độ cao sẽ gây stress nhiệt làm giảm năng suất sản xuất và sinh trưởng của gia cầm, từ đó giảm lợi nhuận (Gussem và ctv, 2016), xác định thông qua chỉ số nhiệt độ - độ âm: Chỉ số nhiệt độ / độ 4m (nhiệt độ + độ 4m) = 90 + tuần tuôi 100 95 85 Humid ty 80 75 70 65 60 55 50 45 Hình 1. Khoảng nhiệt độ va âm độ phù hợp cho gà (Gussem va ctv, 2016) Một yếu tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của gia cầm là ánh sáng. Ngoài việc dựa vào ánh sáng dé tìm thức ăn, nước uống, nó còn kích thích sự phát triển và thành thục trên gà.
Do đó cần chế độ chiếu sáng 24 / 24 giờ lúc với nhập gà về và giảm dan theo độ tuổi (Gussem va ctv, 2016). Giới thiệu về chitosan Theo Aljeboryl và Alsalman (2017), chitosan là một thuật ngữ dùng để gọi chuỗi polyme được hình thành bởi các đơn vị N — acetyl — D — glucosamine (đơn vị acetyl hóa) và B — (1 - 4) - D - glucosamine (đơn vi đã khử acetyl), được tìm thấy trong vỏ của côn trùng, tao, nam và động vật giáp xác. Tiền chat của chitosan là chitin đã được khử acetyl hóa, khử khoáng, khử protein và khử màu với dung dịch NaOH, HCI ở nhiệt độ cao. Theo Kou và ctv (2020), con người chỉ sử dụng khoảng 50 — 60 % tổng khối lượng của giáp xác, phần còn lại sẽ trở thành chất thải và loại bỏ.
Nguồn sản xuất chitosan chủ yếu là vỏ giáp xác (tôm, cua) được tận dung từ phan thải đó. Trong vỏ giáp xác chiếm khoảng 20 — 30 % chitin, còn lại là calci carbonate và protein. Hàm lượng chitin trong các phụ phẩm từ 20 % là đủ điều kiện để điều chế chitosan (Kou và ctv, 2020; Jardine và Sayed, 2017). — / AcHN Chitin * Biomedical devices SỐ, = 5 * Water purification * Drug delivery = ow °) mam - Cosmetics * Catalysts HạN n` * Antimicrobials \ Chitosan J Hình 1.
Nguồn gốc chitin va chitosan (Jardine va Sayed, 2017) Chitosan là dẫn xuất N - deacetyl hóa của chitin, tuy nhiên qua trình khử nay diễn ra không hoàn toàn. Theo tài liệu của Kumar (2000), chitosan va chitin có cầu trúc tương tự với cellulose, chỉ khác nhau ở vị trí nhóm chức C2. Nhóm chức này néu được thay thế bởi nhóm acetyl thì nó sẽ trở thành cấu trúc của chitin, bởi nhóm amin sẽ tạo thành chitosan. Đặc tinh của chitosan Chitosan có hai thông số quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học của chitosan: chỉ số deacetyl hóa và khối lượng phân tử.
s* Chỉ số deacetyl hóa (Degree of deacetylation — DD) Trong báo cáo của Kou và ctv (2020), quá trình chuyên hóa phân tử từ chitin thành chitosan diễn ra không hoàn toàn, chỉ có một phần nhóm acetyl được thay thé bằng nhóm amin. Theo Drewnowska và ctv (2013), trong sản phẩm nếu gốc acetyl trong chuỗi phân tử chiếm trên 50 % thì chuỗi đó là chitin, nếu gốc amin trên 50 % thì đó là chitosan (Hình 1. CH;OH x CH,OH o Oo, N (9H N O, OH 9 oH NH, R R= =e Va and x > 50% == chitin Ề CH; R= —H and y > 50% => chitosan Hình 1. Cấu tric chitin va chitosan dựa trên đặc tinh của polime sinh học (Drewnowska và ctv, 2013) Thông thường, chỉ số DD của chitosan trong các sản phẩm từ 60 % trở lên và được đo bằng quang phổ hồng ngoại, sắc ký khí gel và quang phổ UV, quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân, phương pháp quang học hồng ngoại.
s* Khối lượng phân tử Khối lượng phân tử là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính của chitosan (Aranaz và ctv, 2014), nó phụ thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu và quá trình deacetyl hóa: nhiệt độ, thời gian và nồng độ NaOH. Chitosan có thể thu được từ quá trình deacetyl hóa chitin phần lớn có khối lượng phân tử nằm trong khoảng 200 - 500 kDa, thậm chí có thé có khối lượng phân tử lớn tới 1000 kDa. Tuy nhiên, chitosan cần được làm giảm khối lượng phân tử xuống mức thấp hơn dé có kích thước phù hop, giúp chitosan phát huy được tác dụng sinh học tối ưu trong quá trình sử dụng. Khối lượng phân tử chitosan được xác định bằng một số phương pháp như đo độ nhớt, sắc kí thấm gel, phương pháp tán xạ ánh sáng, sắc ký lỏng hiệu năng cao,.
Tính chất của chitosan Hầu hết các polysaccharide tự nhiên như cellulose, dextran, pectin, acid alginic, agar. có pH trung tính hoặc acid yếu, con chitosan có tính kiềm mạnh. Kha năng hoạt động lý học và hóa học của chitosan được xác định bằng một số tính chất như tính tan, độ 1on hóa, kha năng cơ học của màng chitosan. trong đó tính tan là quan trọng nhất, quyết định hoạt tính sinh học của chitosan.
Theo Kumar (2000), tiền chất của chitosan là chitin có tính ky nước, do đó chitosan cũng khó tan trong nước va dung môi hữu cơ nhưng có thé tan được trong acid loãng như acid acetic, acid fomic,. tạo thành muối hòa tan. Thêm vào đó, Kou và ctv (2020) cho biết mức độ hòa tan của chitosan còn phụ thuộc vào khối lượng phân tử, chỉ số N- acetyl hóa của phân tử (Degree of acetylation - DA) và chỉ số deacetyl hóa (Degree of đeacetylation —DD) (Hình 1. Chỉ số DD là thông số quan trọng của chitosan, chỉ số này càng cao thì số lượng nhóm chức amin và lượng proton trong phân tử càng nhiều, chứng tỏ phân tử chitosan đó có tác dụng sinh học mạnh va dé hòa tan trong dung dịch.
“Weal chiti I” chitin no “ideal” chitosan yo oe OH NH> HO ° ° 100- DA SN ¿hi “real” chitin and chitosan DA = 0. NH2 n DA - degree of N-acetylation n 100% - DD = DA Hình 1. Cấu trúc hóa học của chitin và chitosan (Kumirska và ctv, 2011) Theo một số nghiên cứu, có sự tương quan giữa khối lượng phân tử của chitosan và kha năng hòa tan của chúng: khối lượng phân tử cảng thấp thi khả năng hòa tan càng cao. Khối lượng phân tử của chitosan trên 30 kDa phải được hòa tan trong dung môi có tính acid dé hoạt hóa nhóm amin (Pillai và ctv, 2009).
Những phân tử chitosan có khối lượng dưới 30 kDa có thé tan trong nước ma không cần dung môi acid (Gerasimenko và ctv, 2004). Những chitosan có khối lượng nhỏ hơn 9 kDa có thể tan được trong nước bat ki (Pillai va ctv, 2009). Dung môi hòa tan chitosan thường được sử dụng là các acid yếu như acid acetic, acid lactic, acid pyruvic,. Tuy nhiên, nhóm acetyl phân bố không đều trong phân tử chitosan ảnh hưởng đến kha năng hòa tan và gây von cục chitosan (Philippova và ctv, 2012).
Thêm vào đó, giá trị pKa là tham số thé hiện độ phân ly của chitosan, do phần lớn gốc amin hiện diện trong cấu trúc của chitosan nên pKa = 6,3 — 6,5. Điều này cho thấy chitosan không tan trong dung môi có pH > 6,5 (Kravanja va ctv, 2019). Theo Cheung và ctv (2015), tính tan có ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học và tính ứng dụng của chitosan. Sự biến tính của phân tử chitosan sẽ làm ảnh hưởng đến độ hòa tan và sự 6n định của nó trong dung dịch.
Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc điều chế ra dẫn xuất chitosan có thể hòa tan trong dung môi với khoảng pH rộng, đồng thời phát huy được tối đa hoạt tính sinh học của chúng (Lim va Hudson, 2004). Hoạt tính sinh học của chitosan 1. Sự kiểm soát hệ vi sinh vật đường ruột và mầm bệnh Theo Goy và ctv (2009); Kravanja và ctv (2019), chitosan dựa trên bản chất là một cation (điện tích của nhóm amin — NH2), những phân tử chitosan có khối lượng lớn sẽ liên kết với các gốc tích điện âm trên bề mặt vi khuẩn, làm thay đổi điện tích và tăng tính thấm của màng tế bào vi khuẩn, gây can trở sự trao đổi chất của tế bao, rò rỉ các thành phần nội bào gây chết và ly giải tế bao vi khuẩn.