Chương 1 TỔNG QUAN ĐÔ THỊ HÓA, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ BẮC NINH TRƯỚC NĂM 1986 1. Đô thị và đô thị hóa 1. Đô thị Đô thị là một trong những dấu hiệu lâu đời nhất của nền văn minh nhân loại, bắt đầu có khoảng 4000 năm đến 6000 năm trước đây hoặc lâu hơn nữa. Khi đó, đô thị chỉ là nơi tập trung khá đông người hoạt động nông nghiệp.
Trải qua thời gian, những đô thị được hình thành sau hàng loạt biến động về dân cư, thủ công nghiệp, công nghiệp và thương mại. Ngày nay, những thay đổi về khoa học kỹ thuật và kinh tế làm biến đổi sâu sắc cấu trúc, chức năng, kiến trúc và quy mô dân số đô thị cũng như tỉ lệ dân cư đô thị. Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, đô thị là nơi tập trung dân cư đông với mật độ dân số cao, lấy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp làm ngành kinh tế chính và có điều kiện sinh hoạt theo hướng tiến bộ, văn minh hơn so với những vùng xung quanh. Điều này đã được phản ánh tương đối trọn vẹn trong cách định nghĩa về đô thị của Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ, rằng đô thị (city) như một cách sử dụng thông thường chỉ một tập hợp dân cư có quy mô đáng kể, chỉ một nơi mà điều kiện sống trái ngược với đời sống nông thôn và đời sống hoang dã.
Nó là một hiện thực chung của xã hội văn minh. Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra khái niệm đô thị. Giáo sư Cao Xuân Phổ đã phát biểu: “Trong tiếng Việt, có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã,… Các từ đó điều có hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế bộ phận đảm nhận và cai quản đô thị là do nhà nước đảm nhiệm.
Đô thị phương tây có ít tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế”.[42;103] 10 c Tuy nhiên đây không phải là đặc điểm duy nhất của đô thị Việt Nam thời hiện đại. Bên cạnh yếu tố “đô”, “thành” còn có những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng như: giao thông, điện nước, giáo dục, văn hóa, y tế… chính vì vậy theo các tác giả của công trình nguyên cứu khoa học Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, “đô thị là điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một nền lãnh thổ, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng tỉnh, huyện”.[3;14] Cách định nghĩa này cũng tương đồng với quan điểm của Nhà nước được thể hiện trong nghị định 132/HĐBT ngày 05/05/1990 về việc phân loại đô thị và việc phân cấp quản lý đô thị. Theo đó, đô thị là điểm dân cư có yếu tố cơ bản: 1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định.
Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn). Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; là nơi sản xuất sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng. Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng.
Cũng theo nghị định này, ở Việt Nam có 5 loại đô thị: - Đô thị loại I: là đô thị rất lớn; trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch, giao thông, công nghiệp, giao dịch quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển cả nước; có dân số từ 1 triệu người trở lên với tỷ suất hàng hóa cao, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; có cơ sơ hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng đồng bộ; có mật độ dân cư bình quân 15.000 người/km2 trở lên. 11 c - Đô thị loại II: là đô thị lớn; có trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội, sản xuất công nghiệp, du lịch – dịch vụ, giao thông, du lịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ; có số dân từ 35 vạn người đến 1 triệu người; sản xuất hàng hóa phát triền, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; mật độ dân cư bình quân là 12.000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại III: là đô thị trung bình lớn; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, du lịch – dịch vụ; có vai trò thúc đẩy sự phát triển một tỉnh, hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ; dân số từ 10 vạn người đến 35 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); sản xuất hàng hóa tương đối phát triển, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên trong tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt; mật độ dân cư bình quân 10.000 người/km2 trở lên (vùng núi có thể thấp hơn). - Đô thị loại IV: là đô thị trung bình nhỏ; trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh; dân cư từ 3 vạn người đến 10 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); là nơi sản xuất hàng hóa, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên trong tổng số lao động; đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng từng phần; mật độ dân cư 8000 người/km2 trở lên (vùng núi có thể thấp hơn).
- Đô thị loại V: là đô thị nhỏ; trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội, hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp,… có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc một vùng trong huyện; dân số từ 1000 người đến 3 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; bước đầu xây dựng một số công trình và hạ tầng kỹ thuật; mật độ dân cư bình quân 6000 người/km 2 (vùng núi có thể thấp hơn). 12 c Đối với đô thị loại I và loại II do trung ương quản lí. Đối với đô thị loại III và loại IV do tỉnh quản lí. Đối với đô thị loại V do huyện quản lí.
Như vậy, theo nghị định này thì thành phố Bắc Ninh là đô thị loại III do tỉnh Bắc Ninh quản lý. Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đô thị ở Việt Nam phát triển nhanh chóng về chất lượng và số lượng, đặc biệt là quy mô của các đô thị. Nghị định 132/HĐBT tỏ ra không còn phù hợp, vì vậy ngày 05/10/2001 nghị định số 72/2001/NĐ - CP được ban hành thay thế cho nghị định 132 về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Theo quy định pháp lý về đô thị, đô thị nước ta là các điểm dân cư tập trung có đủ hai điều kiện sau: - Đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.
- Về trình độ phát triển: 1- là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định, nhỏ nhất cũng phải là tiểu vùng trong huyện; 2- Quy mô tối thiểu của nội thành, nội thị là 4.000 người; 3- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên trong tổng số lao động của nội thành, nội thị; 4- Có cơ sơ hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị đạt 70% mức quy định đối với từng loại đô thị; 5- Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng, tối thiểu là 2000 người/km2. Theo đó, đô thị Việt Nam được chia làm 6 loại: - Đô thị loại đặc biệt là loại đô thị rất lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, dân số trên 1,5 triệu người, mật độ dân số trung bình trên 15.000 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động là trên 90%. 13 c - Đô thị loại I: là những đô thị lớn có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, du lịch - dịch vụ,… giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kịnh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ liên Tỉnh; quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên, mật độ dân số từ 12.000 người/km 2 trở lên với tỉ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hơn hoặc bằng 85%. - Đô thị loại II: là những đô thị trung bình lớn, phải đảm bảo các chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,… trong vùng Tỉnh, vùng liên Tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên Tỉnh hoặc một số lĩnh vực của cả nước, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trên 80%, dân số lớn hơn hoặc bằng 250.000 người, 2 mật độ dân số tử 10.000 người/km trở lên.
- Đô thị loại III: là đô thị loại trung bình, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một Tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên Tỉnh; tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trên 75%, dân số trên 100.000 người, mật độ dân số từ 8000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại IV: là đô thị loại trung bình nhỏ, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một Tỉnh hoặc vùng trong Tỉnh; tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trên 70%, dân số trên 50.000 người, mật độ dân số trung bình trên 6000 người/km2 trở lên.